Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Thực trạng và một số vấn đề về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh khu vực biên giới Tây Nguyên


Khu vực Tây Nguyên có 590 km đường biên giới giáp với Campuchia và Lào với 29 xã biên giới, thuộc 12 huyện của 4 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông; tổng số dân hơn 113.000 người. Riêng xã Mo Ray (huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) có đường biên giới dài 80 km nên việc đi lại hết sức khó khăn.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội dọc theo tuyến biên giới Tây Nguyên nhằm khai thác tiềm năng đất đai và tạo thế chiến lược về quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Thông qua các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia, cơ sở hạ tầng (cầu, đường giao thông, hệ thống lưới điện, các trạm quân-dân y kết hợp, tuyến đường tuần tra, công trình phòng thủ) khu vực biên giới Tây Nguyên được tập trung đầu tư xây dựng, vừa phục vụ dân sinh xã hội, phát triển sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, an ninh.

Từ điều kiện và đặc điểm cụ thể của khu vực biên giới Tây Nguyên, Đảng bộ các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông đã ra Nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên vành đai biên giới, lãnh đạo đồng bào các dân tộc thực hiện định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường tinh thần cảnh giác cách mạng, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk đã triển khai hiệu quả các dự án kinh tế kết hợp với quốc phòng tại các địa bàn trọng điểm, khu vực biên giới, chăm lo củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Các đơn vị sản xuất, các nông, lâm trường được bố trí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng; chú trọng xây dựng thực lực chính trị vững mạnh gắn với phát triển sản xuất, ổn định đời sống dân cư. Từ năm 2005, việc xây dựng mô hình “Làng Thanh niên lập nghiệp nơi biên giới” được triển khai trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã tạo điều kiện cho đoàn viên, thanh niên các dân tộc tham gia phát triển kinh tế, định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, từng bước hình thành “thế trận lòng dân” khu vực biên giới Tây Nguyên.

Tuy nhiên, nhìn chung khu vực biên giới Tây Nguyên vẫn còn chậm phát triển, dân cư thưa thớt, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn khá cao. Một số vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa còn “đói thông tin”, tồn tại nhiều tập tục lạc hậu. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, vấn đề đất đai để tăng cường xuyên tạc, chống phá cách mạng; kích động, lừa bịp một bộ phận đồng bào vượt biên trái phép sang Campuchia.

Để khu vực biên giới Tây Nguyên ổn định, phát triển bền vững, cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần tăng cường, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, các đơn vị kinh tế quân đội khi kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên; tiếp tục xây dựng và phát huy hiệu quả các khu kinh tế - quốc phòng ở địa bàn xung yếu, dọc biên giới để thu hút dân (bao gồm cả đồng bào tại chỗ và nơi khác đến) tham gia sản xuất.

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Tây Nguyên cho thấy: nơi nào có Công ty, đơn vị kinh tế quân đội, các nông - lâm trường nhà nước đứng chân, nơi đó kinh tế phát triển, đời sống đồng bào các dân tộc được nâng cao; hệ thống y tế, văn hoá, giáo dục được đầu tư đồng bộ; quốc phòng, an ninh được đảm bảo.

Đứng chân trên địa bàn biên giới 3 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, các Công ty, đơn vị thuộc Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) thực sự đóng vai trò “bà đỡ”, là “đòn bẩy” cho các buôn, làng đồng bào dân tộc phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy lùi nghèo nàn, lạc hậu, tạo ra diện mạo mới ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới Tây Nguyên.

Trên cơ sở bố trí lại dân cư theo quy hoạch sản xuất và mục tiêu lâu dài của quốc phòng, an ninh, Binh đoàn 15 đã góp phần hình thành nên các cụm làng xã dọc theo biên giới; tạo nên vành đai biên giới vững chắc trong thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân. Các cụm dân cư được tổ chức gắn với các khu sản xuất tập trung của các công ty tạo thành từng khu vực, từng tuyến kết hợp kinh tế với quốc phòng từ nội địa ra đến gần biên giới. Binh đoàn đã phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương tuyên truyền vận động đồng bào và người lao động thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ngăn chặn có hiệu quả việc truyền đạo “Tin lành Đề ga”, vượt biên trái phép sang Campuchia; giữ vững an ninh chính trị địa bàn và an ninh biên giới. Trước yêu cầu về an ninh chính trị - xã hội trên địa bàn, Binh đoàn đã chủ động đề xuất với cấp uỷ, chính quyền hai huyện biên giới Đức Cơ và Ia Grai (Gia Lai) thành lập “Ban Chỉ đạo thống nhất” nhằm phối hợp thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào không nghe lời kẻ xấu xúi dục vượt biên trái phép, phá hoại sản xuất.

Mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng của Binh đoàn 15 đã thực sự tạo ra những “điểm sáng” về phát triển kinh tế, văn hoá, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên vành đai biên giới Tây Nguyên; qua đó tăng thêm niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước; tô thắm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa biên giới của Tổ quốc.

Thứ hai, phát triển kinh tế-xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên luôn gắn liền với xây dựng đường biên giới hữu nghị, hoà bình; bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh quốc gia. Một tuyến biên giới vững chắc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên, ổn định cuộc sống và nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc; đồng thời bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, củng cố quốc phòng, ngăn chặn hiệu quả kẻ địch từ bên ngoài xâm nhập vào chống phá. Từ thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 313/QĐ-TTg ngày 14/3/2007 phê duyệt “Đề án Quy hoạch xây dựng đường tuần tra biên giới đất liền giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo”. Qua 5 năm triển khai thực hiện, tuyến đường tuần tra biên giới trên địa bàn tỉnh Kon Tum và Gia Lai đã hoàn thành, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, tạo điều kiện cho các địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bố trí lại các cụm, điểm dân cư, thúc đẩy xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc khu vực biên giới Tây Nguyên.

Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương của Đảng và Bộ Quốc phòng, lực lượng Bộ đội Biên phòng các tỉnh Tây Nguyên luôn chú trọng nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh gắn với chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc khu vực biên giới, xây dựng trận địa lòng dân vững chắc, bảo vệ chủ quyền an ninh Tổ quốc. Vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thấm sâu vào lòng đồng bào vùng biên giới; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc. Muốn vậy, cần đặc biệt chú trọng hoàn thành vững chắc việc định canh, định cư, khắc phục có hiệu quả tình trạng di dân nội vùng không có tổ chức, bảo đảm 100% đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có đủ đất sản xuất, giữ được đất và có việc làm, thu nhập ổn định; thực hiện kế hoạch tiếp tục bố trí dân cư, lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo quy hoạch để tổ chức sản xuất và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo đảm tính kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh; quốc phòng-an ninh với kinh tế.

Thứ ba, thúc đẩy khuôn khổ hợp tác tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực biên giới ba nước. Ban hành cơ chế khuyến khích phát triển kinh tế đối ngoại khu vực biên giới ba nước gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Khu vực tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia bao gồm 10 tỉnh biên giới: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông (Việt Nam); Attapư, Saravan và Sê Kông (Lào); Moldulkriri, Rattanakiri và Stung Treng (Campuchia). Nằm ở vị trí trung tâm của khu vực tam giác phát triển, tỉnh Gia Lai và tỉnh Rattanakiri (Campuchia) đã xúc tiến nhiều chương trình tăng cường hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, xuất nhập khẩu, đầu tư các dự án trồng cây cao su, cây công nghiệp. Hai tỉnh Đắk Nông và Mundulkiri đã ký kết Chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội (ngày 15/6/2006) trên nhiều lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực biên giới qua hai cửa khẩu Bu Prăng (huyện Tuy Đức) và cửa khẩu Đắc Peur (huyện Đắk Min); tìm hiểu và triển khai hợp tác đầu tư về nông, lâm nghiệp; thương mại và dịch vụ; tạo điều kiện cho nhân dân vùng biên giới trong khám, chữa bệnh. Công ty Cao su Đắk Lắk triển khai Dự án phát triển cao su và cây công nghiệp tại 4 tỉnh Nam Lào; đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn tại tỉnh Salavan. Tại Campuchia, Công ty thực hiện Dự án trồng 10.000 ha cao su, Dự án Khu văn phòng và Trung tâm thương mại…

Cùng với tăng cường hợp tác, đầu tư phát triển kinh tế, lực lượng chức năng các tỉnh Tây Nguyên đã có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng Campuchia về an ninh biên giới, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội khu vực biên giới hai nước.

Quá trình tăng cường hợp tác trong tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới ba nước; xây dựng tuyến biên giới láng giềng, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các nước trong khu vực. Đây là nhân tố rất quan trọng cho sự ổn định và phát triển ở mỗi nước và của khu vực tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia.

THS. Lê Nhị Hòa

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,860,097


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs