Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/12/2010
Vài suy nghĩ về đưa chính sách vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số
Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản lâu dài, nhưng cũng là vấn đề cấp bách của cách mạng nước ta.

Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân tộc đối với tiến trình cách mạng của đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển mọi mặt đời sống xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, khắc phục sự chênh lệch về các mặt giữa các vùng, các dân tộc do nhiều nguyên nhân để lại. Trong vòng 10 năm (2001-2010), Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, về thực chất là một bộ phận cấu thành trong quan điểm, chính sách chung của Đảng và Nhà nước, với nguyên tắc chung nhất quán là Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Trong những năm qua, việc chăm lo phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều cố gắng, nguồn lực nhà nước đầu tư trên các lĩnh vực tăng, nhiều chủ trương, chính sách đã được nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện và đạt được những kết quả đáng phấn khởi trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, từ việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; công tác định canh định cư và phát triển kinh tế mới; việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, đến công tác văn hóa, giáo dục, y tế; sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị cơ sở… góp phần làm chuyển biến đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo cơ sở để đồng bào các dân tộc có cơ hội phát triển ở trình độ cao hơn trong những năm tiếp theo.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, điều dễ nhận thấy là những chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Bất cập và hạn chế ngay từ việc hoạch định chính sách cũng như những biện pháp để đưa chính sách vào cuộc sống, điều đó đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc, làm hạn chế những kết quả đã đạt được, mà điều dễ nhận thấy là kinh tế-xã hội và các mặt khác vùng đồng bào các dân tộc thiểu số chưa chuyển biến mạnh, có nơi có nguy cơ tụt hậu so với các vùng khác. Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao (62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% - chủ yếu là huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số). Ước tính năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc và Đông Nam bộ tới 31,5%; tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còn cao, gấp 1,7-2 lần so với cả nước, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào các dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo trong cả nước tăng. Cùng với nghèo đói là mù chữ và tái mù chữ; trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu đất canh tác; tình trạng lãng phí; hệ thống chính trị - nhất là ở cơ sở còn nhiều yếu kém… thực tế trên cho thấy, mặc dù nguồn đầu tư lớn, có sự nỗ lực lớn nhằm cải thiện tình hình, nhưng vẫn chưa đạt được một số mục tiêu đề ra.

Sự bất cập nêu trên có thể từ nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, nhưng điều cần được nhấn mạnh là trong hoạch định và thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta chưa nhận thức đầy đủ xu hướng vận động của các quan hệ dân tộc; chưa xuất phát từ truyền thống văn hóa, tập quán và những nét đặc thù của từng dân tộc, của từng vùng, cá biệt có nơi không chú ý đến sự lựa chọn của đồng bào, chưa phát huy vai trò tự chủ, sáng tạo của cơ sở và của chính đồng bào các dân tộc thiểu số; mà chủ yếu là từ ý muốn chủ quan, muốn nhanh chóng mang lại những thay đổi tốt đẹp cho đồng bào trong một thời gian ngắn - sự áp đặt những mô hình ở những địa bàn khác nhau như thời bao cấp trước đây. Đầu tư thì phân tán nguồn lực, lúng túng về cơ chế.

Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong những năm qua, một mặt, từ việc hoạch định thiếu sâu sát, nặng tính chủ quan; mặt khác, quá trình thực hiện lại thiếu bộ máy và con người, đó là chưa đề cập đến những tiêu cực nảy sinh trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống. Thực tế trên đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu cả phương diện lý luận lẫn thực tế nhằm hoàn thiện quá trình hoạch định cũng như tổ chức hiện thực hóa chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm đưa miền núi tiến kịp miền xuôi trong quá trình xây dựng cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Để đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vào cuộc sống cần phải tiến hành đồng bộ hệ thống giải pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; phải tiến hành việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn đối với lĩnh vực này, theo chúng tôi cần chú trọng những nội dung sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức.

Về lý thuyết thì bản thân nhận thức chưa làm thay đổi thực tiễn, nhưng muốn thực tiễn thay đổi thì cần bắt đầu từ nhận thức, thông thường hễ nhận thức đúng thì hành động đúng. Để nhận thức đúng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số (gọi tắt là chính sách dân tộc). Chính sách dân tộc là một bộ phận trong toàn bộ chính sách của Đảng và Nhà nước, chính sách dân tộc gắn bó hữu cơ với chính sách kinh tế, văn hóa và chính sách xã hội, chịu sự tác động của chính sách chung, đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với các chính sách đó.

Trong việc nâng cao nhận thức đối với chính sách dân tộc, cần chú ý 04 vấn đề sau:

Nâng cao nhận thức không chỉ là tuyên truyền, giáo dục những chính sách hiện có, mà thông qua những chính sách ấy phát hiện ra những vấn đề chưa phù hợp nhằm kiến nghị lên cấp trên sửa đổi, bổ sung. Việc học tập, quán triệt chính sách (các loại nói chung) lâu nay chủ yếu là để triển khai thực hiện, ít chú đến những vấn đề bất cập, vì thế, vừa tiến hành triển khai thực hiện, vừa phát hiện và kiến nghị những vấn đề chưa phù hợp với thực tế; bởi vì, quá trình hoạch định chính sách - nhất là chính sách dân tộc cũng bộc lộ những hạn chế.

Tuyên truyền để nâng cao nhận thức về chính sách dân tộc cần khắc phục cách làm trước đây - tiến hành theo kiểu phong trào, tổ chức đợt học tập quán triệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị, mà cần phải thông qua nhiều phương tiện được tiến hành thường xuyên không những đối với cán bộ, đảng viên mà phải chú trọng đến đồng bào các dân tộc thiểu số, nhằm tạo ra sự đồng thuận, vì hơn ai hết họ sẽ là người thực hiện và hiệu quả của chính sách dân tộc (cả tích cực và tiêu cực) sẽ liên quan trực tiếp đối với họ.

Trong nghiên cứu hoạch định và tuyên truyền chính sách dân tộc có một nội dung lâu nay ít được đề cập, đó là xu hướng vận động của các quan hệ dân tộc, và của đồng bào các dân tộc thiểu số. Chúng tôi quan niệm đây là nội dung quan trọng, vì không dự báo được xu hướng này thì việc hoạch định chính sách dân tộc thường dừng lại ở những vấn đề chung, mà phải cụ thể - nhất là trong công tác tuyên truyền, giáo dục, vừa chú ý cái chung, đồng thời phải chú ý đến cái đặc thù của từng dân tộc, từng vùng khác nhau.

Việc thực hiện chính sách dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị các cấp, mà phần rất quan trọng là bản thân đồng bào các dân tộc thiểu số, hơn ai hết đồng bào các dân tộc thiểu số là người tổ chức thực hiện chính sách ấy trong thực tế cuộc sống ở từng cơ sở, làng bản. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu, vươn lên để thoát khỏi đói nghèo của đồng bào, của từng dân tộc… Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số chưa năng động, sự phấn đấu vươn lên còn nhiều hạn chế, tâm lý ỷ lại, thụ động vẫn còn. Nâng cao nhận thức là khắc phục cho được tình hình tư tưởng nêu trên trong một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong vấn đề này không thể nào dùng biện pháp hành chính mà là một quá trình cách mạng thật sự - cách mạng văn hóa tư tưởng.
Thứ hai, sự vận dụng và triển khai trong thực tế.

Cần thống nhất nhận thức sau: cho dù quá trình hoạch định chính sách dân tộc có được nghiên cứu cụ thể đến đâu đi nữa thì cũng chỉ dừng lại trên phương diện chung (vĩ mô), chính sách đó không thể bao quát được hết những đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc. Cần nhận thấy rằng quá trình triển khai thực hiện các cấp cũng máy móc, việc chú trọng nghiên cứu điều kiện cụ thể ít, do đó, việc đề xuất và kiến nghị để bổ sung, sửa đổi diễn ra chậm.

Thực tế trên đòi hỏi việc quán triệt và triển khai thực hiện chính sách dân tộc vừa phải từ chính sách chung, nhưng điều quan trọng hơn là phải xuất phát từ thực tế của từng vùng, từng dân tộc, không nên quá máy móc để rồi áp đặt một cách chủ quan, duy ý chí; đồng thời cũng tránh khuynh hướng vì những đặc điểm riêng của vùng và dân tộc mình mà không chấp hành những vấn đề chung. Thực sự đây là vấn đề khó, trên phương diện phương pháp luận thì nói chung như vậy là hợp lý, nhưng đi vào thực tế cuộc sống không hề đơn giản, sự không đơn giản chính là quá trình vận dụng ấy. Một chính sách, nhất là chính sách dân tộc sẽ thiếu hoặc không có tính khả thi khi đem áp dụng đồng loạt cho tất cả các dân tộc thiểu số bất kỳ ở trình độ phát triển như thế nào, ở hoàn cảnh địa lý ra sao. Trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc, mà nhất là việc triển khai thực hiện cần chú ý đúng mức đến nội dung này.

Do đó, một mặt cấp trên thường xuyên có sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm và bổ sung, điều chỉnh kịp thời; mặt khác, các cấp triển khai thực hiện cũng thường xuyên báo cáo chỉ ra những bất cập của chính sách trong quá trình triển khai thực hiện. Chính sách dân tộc phải vừa đáp ứng nhu cầu chung của cả nước, vừa đáp ứng nguyện vọng và sự tham gia của đồng bào các dân tộc.

Thứ ba, cán bộ là người các dân tộc thiểu số.

Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, cán bộ nào phong trào ấy, điều này chẳng những đúng đối với cán bộ nói chung, mà còn rất đúng đối với cán bộ là người các dân tộc thiểu số trong quá trình đưa chính sách dân tộc và cuộc sống. Có thể nói không quá đáng rằng, trong toàn bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị các cấp (không kể Trung ương), thì lực lượng cán bộ lãnh đạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số - nhất là cán bộ người các dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng không thể thay thế được. Đội ngũ cán bộ này thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và đồng bào các dân tộc; đem văn minh đến với các vùng xa xôi hẻo lánh, cũng chính đội ngũ cán bộ này là trụ cột để giữ vững ổn định chính trị, củng cố đoàn kết dân tộc trên những địa bàn chiến lược quan trọng.

Trong những năm qua, trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ người các dân tộc thiểu số tuy được nâng lên một bước song vẫn còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao; năng lực tổ chức thực tiễn hạn chế, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và hiệu quả còn thấp. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng phải thừa nhận rằng họ chịu nhiều thiệt thòi nhất, những khó khăn về các mặt là thử thách lớn đối với đội ngũ cán bộ này, nếu không có tình cảm cách mạng gắn kết máu thịt với sự phát triển đi lên của cộng đồng các dân tộc, thì cán bộ khó trụ vững và dành hết tâm trí cho công việc. Thời gian vừa qua vẫn có một bộ phận cán bộ người các dân tộc thiểu số có biểu hiện làm việc cầm chừng, tìm cách lên thị xã, thành phố, ít muốn làm việc lâu dài ở cơ sở, làng bản.

Điều đó đòi hỏi một mặt vừa tăng cường đào tạo nhằm nâng cao trình độ mọi mặt, sự thông thạo ngôn ngữ, phong tục tập quán… mặt khác cần nghiên cứu bổ sung chính sách ưu đãi đặc biệt để họ gắn bó hơn với cơ sở, làng bản.

Dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc là nội dung mang tính chiến lược của cách mạng nước ta, vì lẽ đó, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về nó, đề cập đến nhiều biện pháp mang tính toàn diện nhằm thực hiện quan điểm chung nhất quán Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Chúng tôi mong góp được phần nào đó để đưa chính sách đối với đồng bào các dân tộc vào cuộc sống.

PGS. TS Trần Văn Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,912,961


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs