Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/12/2010
Chính sách dân tộc và việc bảo đảm an ninh trong vùng dân tộc đặc biệt khó khăn

An ninh chính trị là nội dung chủ yếu của an ninh quốc gia. An ninh chính trị bao gồm: sự ổn định chính trị, nền tảng tư tưởng, thể chế chính trị, quyền lãnh đạo của Đảng, sự an toàn nội bộ, việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được bảo đảm.. Bảo đảm an ninh chính trị là đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Cương lĩnh 1991 xác định: “Sự ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội là nền tảng của quốc phòng - an ninh”. Bản dự thảo cương lĩnh sửa đổi năm 2011 (Đại hội XI) giữ nguyên nội dung này.

Xét đến cùng “Sự ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số là lòng tin của đồng bào dân tộc đối với Nhà nước. Một khi đại đa số người dân (dân tộc thiểu số) tin tưởng chính quyền và gắn bó với chính quyền, thì an ninh chính trị được bảo đảm.

Vấn đề là làm thế nào để đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn tin và gắn bó với chính quyền?

Do nhiều nguyên nhân, nói chung đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế về tư duy trừu tượng và những vấn đề về chiến lược dài hạn. Cái họ cần là cái ăn, cái mặc, ốm đau phải được chữa khỏi, cao hơn nữa là con cái được học hành để biết cái chữ. Cùng đó là đồng bào thấy cán bộ gần họ, tôn trọng họ, giúp đỡ họ khi gặp khó khăn là họ tin, họ gắn bó với chính quyền, an ninh chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm.

Như vậy, muốn đảm bảo an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần hai nhân tố cơ bản: 1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt địa phương (cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) có khi chỉ là những đồng chí chủ chốt (bí thư, chủ tịch…), có trình độ, có hiểu biết cần thiết và quan trọng hơn là tận tâm với công việc và trong sáng về phẩm chất; 2. Làm cho đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống vật chất, văn hoá ngày một tốt hơn, ít ra là no đủ, được chữa bệnh, được học hành và tiếp cận với thế giới bên ngoài qua các kênh thông tin (phát thanh, truyền hình...).

Trong hai nhân tố trên, nhân tố thứ nhất - cán bộ chủ chốt có vai trò quyết định, nhân tố thứ hai là quan trọng trong việc bảo đảm an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Không có cán bộ chủ chốt tận tâm với công việc phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì chắc chắn an ninh sẽ không được bảo đảm. Do đó, phải xem việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chếố là nội dung chủ yếu của chính sách dân tộc.

Từ 1986 đến nay, chưa có thống kê cụ thể, chính xác, song có lẽ đã có dăm bảy chục văn bản của Đảng, Nhà nước trực tiếp, gián tiếp đề cập đến vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đó là các nghị quyết, chỉ thị của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, kể cả các văn bản của các ban đảng), các quyết định của Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương) dưới các hình thức: nghị quyết, quyết định chỉ thị, nghị định, thông tư, đề án, dự án... Tất cả các loại văn bản nói trên tạo thành chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Trong quá trình triển khai chính sách dân tộc (để thực hiện các văn bản nói trên của Đảng, Nhà nước), Chính phủ, các bộ ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương đã chi hàng trăm ngàn tỷ đồng để làm đường giao thông, xây dựng hệ thống cung cấp điện, xây dựng trường học, trạm y tế hệ thống thuỷ lợi, cung cấp nước sạch, xây nhà văn hoá, các điểm vui chơi, giải trí, hệ thống thông tin, truyền thông (phát thanh, truyền hình) đến các xã, có nơi đến tận bản, làng, buôn, sóc vùng đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn.

Trong điều kiện nền kinh tế ở trình độ thấp và nguồn lực không lớn, việc đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn là một quyết tâm và cố gắng lớn của Nhà nước. Nhà nước Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.

Muốn bảo đảm an ninh trong vùng dân tộc thiểu số phải có hai nhân tố cơ bản là: đội ngũ cán bộ chủ chốt (3 cấp) và đầu tư tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người dân, trong đó đội ngũ cán bộ có vai trò quyết định.

Thực tế Nhà nước đã dùng hơn 90% nguồn lực (tài chính, vật tư, máy móc, thiết bị kỹ thuật, bộ máy triển khai...) để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, chưa tới 10%, thậm chí chỉ 3-5%, đầu tư cho việc đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt tỉnh, huyện, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Đây là bất cập lớn nhất trong chính sách dân tộc từ trước tới nay.

Khởi nguồn của bất cập này là ở nhận thức, nhận thức không đầy đủ, không thấu đáo, không đúng về các nhân tố tạo nên an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó đầu tư quá thấp cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong vùng dân tộc thiểu số - nhân tố có vai trò quyết định.
Phải chăng mọi sai lầm, khuyết điểm, bất cập xuất phát từ đây?

Khi nhà nước đầu tư 100% vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đội ngũ cán bộ chủ chốt tài giỏi tháo vát, tận tâm vì công việc và trong sáng về đạo đức, lối sống có thể khai thác các nguồn lực khác thêm 30 để đầu tư 130. Nhưng với đội ngũ cán bộ chủ chốt kém tài, kém đức thì 100 của nhà nước chỉ đến vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn khoảng 60-70, thậm chí 50.

Có thể nói, toàn bộ chính sách dân tộc của Nhà nước từ 1986 đến nay chưa quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

Cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ để khắc phục bất cập trong chính sách dân tộc. Với cách tiếp cận hệ thống, xin kiến nghị một số vấn đề lớn sau đây:

Một là, về tổ chức cơ quan trực tiếp giúp Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc. Cần giao quyền lớn hơn kèm theo trách nhiệm lớn hơn cho Uỷ ban Dân tộc để trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện chính sách dân tộc. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, thứ bậc trong Đảng cao hơn, quan trọng hơn thứ bậc trong hệ thống hành chính. Đó là một thực tế không nên lảng tránh. Do đó, cần bố trí một đồng chí uỷ viên Ban Bí thư Trung ương làm Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc. Đồng thời phải bổ sung cán bộ giỏi thuộc các lĩnh vực và tạo điều kiện cần thiết cho Uỷ ban Dân tộc thực hiện nhiệm vụ (trụ sở, phương tiện đi lại, thông tin, tài chính...).

Tôi cho đây là điểm nút cần tháo gỡ để tạo ra chuyển biến có tính bước ngoặt trong chính sách dân tộc.

Hai là, cần giao đủ quyền và xác định rõ trách nhiệm cho cấp uỷ, chính quyền địa phương (cấp tỉnh), đồng thời Chính phủ phải tạo điều kiện cần thiết cho họ thực hiện tốt chính sách dân tộc. Cùng một chính sách dân tộc do Trung ương quyết định, có địa phương làm hay, làm tốt và có hiệu quả rõ rệt thể hiện ở yên dân, an ninh chính trị được đảm bảo; có địa phương lại làm không tốt, dân không yên, an ninh chính trị không ổn hoặc chỉ ổn định tạm thời, không chắc chắn. Tại sao? Có lẽ có hai nguyên nhân mang tính gốc rễ: 1. Trong các văn bản chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước có vấn đề không đúng về nhận thức thể hiện ở việc sử dụng phổ biến từ “quan tâm”. Bản thân từ “quan tâm” mang tính “làm thêm” như một hành vi nhân đạo tự nguyện, ai có lòng tốt hảo tâm thì làm nhiều, làm tốt, còn làm vừa vừa cũng chẳng sao; 2. Không xác định rõ, dứt khoát và cụ thể về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của những người đứng đầu chính quyền địa phương, chủ yếu là chủ tịch Hội đồng nhân dân và chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về dân tộc.

Để khắc phục bất cập này, tôi đề nghị: 1. Trong tất cả các văn bản của Đảng, Nhà nước về chính sách dân tộc, đề nghị không sử dụng từ “quan tâm”; 2. Xác định rõ thường vụ cấp uỷ và những người đứng đầu chính quyền địa phương, trước hết là bí thư, chủ tịch Hội đồng nhân dân và chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương. Ai làm tốt thì khen thưởng, ai không làm tròn trách nhiệm thì cách chức và không điều chuyển đến chỗ khác.
Ba là, Ban Bí thư Trung ương cần chủ trì chỉ đạo Uỷ ban Dân tộc và các bộ, ngành, các địa phương tiến hành một cuộc tổng rà soát tất cả chính sách đối với cán bộ hoạt động trong vùng dân tộc đặc biệt khó khăn. Nhìn chung chính sách đãi ngộ đối với cán bộ làm việc trong vùng dân tộc đặc biệt khó khăn còn mang nặng tính bình quân. Trước hết cần phân thành 3 loại cán bộ: 1. Cán bộ là người dân tộc thiểu số; 2. Cán bộ là người Kinh hoặc người các dân tộc khác định cư ở đô thị hoặc đồng bằng trong tỉnh có vùng đặc biệt khó khăn; 3. Cán bộ định cư ở đô thị hoặc đồng bằng lên vùng dân tộc đặc biệt khó khăn thuộc tỉnh khác. Cần có chính sách đãi ngộ với từng loại cán bộ.

Ngoài khung lương cơ bản (thuộc hệ thống nhà nước) cần có phụ cấp đặc biệt cho cán bộ công tác ở vùng đặc biệt khó khăn và khi nghỉ hưu được cộng hệ số lương theo số năm công tác ở vùng dân tộc đặc biệt khó khăn. Chính sách đãi ngộ phải toàn diện, lâu dài và sau khi nghỉ hưu họ vẫn có phụ cấp ưu đãi tương xứng với thời gian và công sức đã xây dựng vùng đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn. Chính sách phải đảm bảo cho cán bộ yên tâm công tác và khuyến khích họ làm tốt nhất.

Bốn là, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Uỷ ban Dân tộc cần chủ trì (kết hợp với các bộ, ngành, địa phương) tổng kết công tác giáo dục, đào tạo cán bộ và nâng cao mặt bằng dân trí cho đồng bào dân tộc vùng đặc biệt khó khăn. Cần đánh giá khách quan từ giáo dục mầm non, cấp học phổ thông, các trường dân tộc nội trú, dạy nghề, cao đẳng, đại học. Nghiên cứu xây dựng mô hình trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật tổng hợp đào tạo giáo viên tiểu học và phổ thông cơ sở cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Năm là, khi Uỷ ban nhân dân đã đủ mạnh (vấn đề thứ nhất ở trên) và giao đủ quyền hạn và trách nhiệm cho thường vụ cấp uỷ và những người đứng đầu chính quyền địa phương (vấn đề thứ hai), thì không cần các ban chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Sáu là xây dựng lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh tại vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn đủ sức nắm chắc tình hình, chủ động phòng ngừa và đấu tranh kịp thời, có hiệu quả với các loại tội phạm xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Kinh tế phát triển nhanh và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số được đảm bảo tốt thì an ninh, trật tự sẽ được đảm bảo, chính trị - xã hội ổn định. Đầu tư để làm đường là tối cần thiết, nhưng đầu tư cho con người, trước hết và chủ yếu là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, là quyết định thành bại của chính sách dân tộc. Đại hội XI của Đảng sẽ quyết định những vấn đề “quốc gia đại sự” ở tầm chiến lược chung. Sau Đại hội XI cần có một cuộc “tổng kiểm kê” toàn bộ chính sách dân tộc từ 1986 đến nay. Nhất thiết phải đổi mới tư duy về chính sách dân tộc và dám nhìn thẳng vào sự thật, đồng thời phải từ giã lối tư duy nhiệm kỳ để có sự đổi mới một cách căn bản việc hoạch định, ổn định và phát triển bền vững tại vùng đặc biệt khó khăn này.

PGS.TS Lê Văn Cương

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,579


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs