Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong dự thảo báo cáo chính trị đại hội XI của Đảng


Tây nguyên ngày hội

Đoàn kết và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là bài học cơ bản, xuyên suốt quá trình 80 năm hoạt động cách mạng của Đảng. Đoàn kết giúp Đảng tạo ra sức mạnh lực lượng vật chất, tinh thần vô địch vượt qua mọi sóng gió, ghềnh thác, trở lực để chiến thắng mọi kẻ thù. Bác Hồ, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta luôn căn dặn: Đảng phải thật sự vì dân, chăm lo và bảo vệ mọi lợi ích của nhân dân trong mọi thời kỳ, coi đó là mục tiêu phấn đấu và là điều kiện để Đảng hoàn thành mọi nhiệm vụ cao cả của mình. Người cũng chỉ rõ: mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. Đảng không có mục đích tự thân, Đảng chỉ có một mục đích là phụng sự Tổ quốc. Theo tư tưởng của Người, để phụng sự được Tổ quốc, Đảng phải đoàn kết toàn dân.

Trải suốt 80 năm qua, Đảng ta luôn dựa vào dân, có chính sách đúng đắn chăm lo, bảo vệ mọi quyền lợi chính đáng của nhân dân và đã được nhân dân đồng tình ủng hộ, giúp đỡ cách mạng vượt qua những lúc khó khăn, gian khổ, hiểm nghèo để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân thật sự là lực lượng quyết định mọi thắng lợi. Thực tế lịch sử cho thấy, khi nào nhân dân đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng đi theo Đảng thì khi ấy cách mạng thành công, xã hội ổn định phát triển. Ngược lại khi nào, ở đâu lòng tin của nhân dân giảm sút, vơi cạn; cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách, không gương mẫu, mất dân chủ, quan liêu, chuyên quyền độc đoán, nói không đi đôi với làm... thì nhân dân bất bình; quan hệ giữa Đảng với nhân dân lỏng lẻo, nhân dân mất lòng tin với Đảng.

Kiểm điểm, đánh giá về công tác này, dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa X trình Đại hội XI khẳng định những thành tựu: “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức. Công tác dân vận của hệ thống chính trị có một số đổi mới. Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với các tầng lớp nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng”.

Đánh giá về những hạn chế, khuyết điểm của công tác này, Dự thảo Báo cáo Chính trị cũng đã nghiêm khắc và thẳng thắn chỉ rõ: “Dân chủ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Không ít trường hợp việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức hoặc lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

Một số chủ trương quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế thành pháp luật; hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; giữa các chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt. Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc và Các đoàn thể vẫn còn mang tính hành chính”.

Đối chiếu những thành tựu với các hạn chế, khuyết điểm về vấn đề này trong Dự thảo Báo cáo Chính trị gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ cần phải rút kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện dân chủ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân theo chủ trương của Đảng có hiệu quả và ngày càng tốt hơn. Văn kiện xác định thành tựu là: “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ…”.

Phần hạn chế, khuyết điểm lại xác định: “Giữa các chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt”. Một khía cạnh khác của thành tựu là: “Công tác dân vận của hệ thống chính trị có một số đổi mới”. Phần hạn chế, khuyết điểm lại chỉ rõ: “Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vẫn còn mang tính hành chính”. Phần thành tựu khác là: “Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với các tầng lớp nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn”. Phần hạn chế, khuyết điểm cũng chỉ rõ: “Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; hoặc lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội”.

Việc đánh giá những thành tựu, hạn chế, khuyết điểm như vậy là cần thiết. Văn kiện đã đánh giá những nội dung công việc cụ thể, những mức độ cụ thể của thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm để chúng ta so sánh, rút ra những bài học cụ thể, thiết thực. Song, điều quan trọng hơn ở bản Dự thảo Báo cáo chính trị trình trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cần chỉ rõ nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm của các cơ quan, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị, thậm chí với các cá nhân về những thành tựu, hạn chế, khuyết điểm theo tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của Đảng. Nếu không kiểm điểm đánh giá cụ thể, chính xác như vậy, e rằng nhiều kỳ Đại hội sau khó tránh khỏi có những đánh giá chung chung, tương tự lặp lại. Đương nhiên trong khuôn khổ rất có hạn của Văn kiện không thể viết dài dòng, chi tiết nhưng lại cần có sự bày tỏ quan điểm rõ ràng, cô đọng, cụ thể để có biện pháp và trách nhiệm tích cực trong giải quyết tình hình, thúc đẩy đất nước phát triển.

Để tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phần phương hướng của dự thảo Báo cáo nêu rõ: “Nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những quan điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp đoàn kết mọi người vào một mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đại đoàn kết dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích của các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình”.

Trên đây là định hướng, quan điểm, nội dung, biện pháp để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong nhiệm kỳ 2011-2015 của Đảng. Điều chủ yếu mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi người phải có trách nhiệm đào sâu suy nghĩ, tìm tòi để có những bước đột phá, tạo chuyển biến thực sự rõ nét, khắc phục những nguyên nhân làm cho hạn chế, khuyết điểm không lặp lại; phát huy các thành tựu đã đạt được của nhiệm kỳ trước để củng cố lòng tin với nhân dân.

Dự thảo Báo cáo Chính trị còn chỉ rõ về công tác dân tộc của Đảng hiện nay là: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách, tạo chuyển biến rõ trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta có truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, luôn tin tưởng và đi theo Đảng ngay từ khi Đảng mới thành lập. Đồng bào lại sinh sống ở những vùng khó khăn, phức tạp về điều kiện kinh tế, tự nhiên nhưng lại có vị trí vô cùng quan trọng có tính chiến lược về kinh tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh… Trong khi đó, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khiến cho đời sống đồng bào còn quá khó khăn, hạn chế nhiều mặt. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không ngoài mục đích phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào; hạn chế khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc, các vùng trong cả nước. Đồng bào luôn hy vọng và chờ mong trong mỗi nhiệm kỳ, mỗi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng bào được tiến gần đến sự khá giả, thoát khỏi nghèo khổ, sống hạnh phúc, bình đẳng thật sự với các dân tộc anh em trong cả nước. Đó cũng là điều trăn trở của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

PGS.TS Trần Quang Nhiếp

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,422


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs