Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Địa bàn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh


Thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Người là nhà quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa của thế giới. Tư tưởng của Người còn tỏa sáng mãi mãi trong lòng dân tộc Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Người đã giải quyết một loạt vấn đề then chốt về tư tưởng lý luận và lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công trong thực tiễn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người khái quát: Con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản và phải tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, trong đó, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là những hình thức chủ yếu. Từ trước những năm 1940 của thế kỷ trước, do sự đô hộ, đàn áp, khủng bố của chính quyền thực dân và phong kiến tay sai, các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản thường phải tìm các địa điểm ở vùng rừng núi, trong đồng bào các dân tộc ít người ở vùng cao, nơi xa xôi hẻo lánh, quân thù khó kiểm soát, để làm nơi đứng chân gây dựng cơ sở và hoạt động cách mạng. Tình hình nhiệm vụ cách mạng của nước ta những năm sau đó đã đặt ra cho Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí minh kế thừa, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm truyền thống, tinh hoa văn hóa thế giới và dân tộc “tìm đất căn bản” (chọn địa bàn thuận lợi) để làm chỗ đứng chân, xây dựng căn cứ địa cách mạng kháng chiến chống quân xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc.

Ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng Bắc Sơn-Võ Nhai thành căn cứ địa cách mạng, dựa vào đó để phát triển lực lượng duy trì hoạt động của đội du kích và phong trào cách mạng của quần chúng. Ngày 28/1/1941, Lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về nước, Người quyết định chọn vùng rừng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cao Bằng, một địa bàn chiến lược trọng yếu để xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước. Người nói: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể bảo toàn lực lượng”. Trong tác phẩm “Con đường giải phóng”, tài liệu do người chỉ đạo biên soạn và trực tiếp hoàn chỉnh để huấn luyện lớp đầu tiên cho hơn bốn mươi cán bộ Việt Minh là người dân tộc thiểu số. Người đã chỉ rõ vị trí ý nghĩa và vai trò to lớn của căn cứ khu du kích trong chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa: “Khi du kích đã khá đông thì phải có “Căn cứ địa” là một vùng khá rộng và hiểm trở, ở đó dân chúng được tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng”. Tiếp theo “con đường giải phóng” trong tác phẩm “Cách đánh du kích”, Người nêu cao tầm quan trọng của địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc ít người, những nơi đứng chân xây dựng lực lượng của đội du kích”. Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc, đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ. Đội du kích hoạt động và phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập được chính quyền cách mạng trong địa phương”.

Từ kinh nghiệm của cách mạng các nước thuộc địa ở châu á, châu Phi mà Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã từng có dịp đi đến hoặc nghiên cứu, Người đã cùng với Đảng ta quyết định chọn Cao Bằng - địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số làm chỗ đứng chân để xây dựng căn cứ địa cách mạng địa bàn miền núi, vùng đồng bào các dân tộc Cao Bằng đáp ứng đầy đủ các điều kiện có thể xây dựng căn cứ địa cách mạng. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khi đề cập đến xây dựng căn cứ địa kháng chiến, trước hết phải “tìm đất căn bản” đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

Một là, nơi có vị thế chiến lược để tiến có thể đánh, lui có thể giữ, có đường giao thông liên lạc thuận tiện cả trong nước và quốc tế.

Địa bàn miền núi, vùng đồng bào các dân tộc Cao Bằng đã đáp ứng hoàn toàn các yếu tố: địa lợi, thiên thời. Nơi đây có núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, rất thuận lợi cho tác chiến du kích khi mà lực lượng của cách mạng lúc đầu còn non trẻ, trang bị, vũ khí còn thiếu. Với vị thế như địa bàn các tỉnh Việt Bắc, đồng bào các dân tộc cũng một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng, bởi vậy khi nào lực lượng cách mạng được xây dựng, tương quan lực lượng cho phép chúng ta có thể đánh địch chủ động (như các trận đánh ở Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu,...), nhưng khi bị địch tiến công, gặp khó khăn, ta có thể rút lui để bảo toàn lực lượng. Với địa bàn có vị chí địa chiến lược như vậy, từ đó cách mạng có thể liên lạc được với các căn cứ địa cách mạng khác, với các nơi trong nước và có thể liên lạc được với quốc tế Cộng sản và các nước bạn anh em.

Hai là, địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có cơ sở cách mạng sớm, có nền nhân dân và phong trào quần chúng mạnh mẽ.

Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng có truyền thống cần cù trong lao động, đoàn kết thương yêu, tin cậy nhau, dũng cảm, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh chống lại các ách áp bức bóc lột trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Truyền thống tốt đẹp đó được nhân lên gấp bội khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhiều chiến sĩ yêu nước và cách mạng đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyên truyền, tổ chức nhân dân đứng lên chống lại đế quốc, phong kiến trong cao trào cách mạng (1930-1931), cao trào mặt trận dân chủ (1936-1939). Đồng bào các dân tộc Việt Bắc qua phong trào đấu tranh đã ý thức được nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Đây chính là cái nền nhân dân được giác ngộ, qua thử thách mà Lãnh tụ Hồ Chí Minh cho rằng là một bảo đảm cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ba là, đia bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc, nơi có điều kiện ổn đinh để phát triển kinh tế, tự cung, tư cấp tự túc, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu về hậu cần tại chỗ cho căn cứ địa kháng chiến.

Trong điều kiện hoạt động bí mật căn cứ địa phải bảo đảm được yêu cầu tự cung, tự cấp tụ túc về kinh tế-cơ sở vật chất cho phong trào đấu tranh, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi tối thiểu cho việc xây dựng đội quân chính trị vũ trang thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Chính điều kiện tự nhiên và truyền thống cần cù lao động của đồng bào các dân tộc, Cao-Bắc-Lạng đã đảm bảo yêu cầu tự cấp, tự túc kinh tế trong điều kiện hoạt động bí mật.

Bốn là, địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc còn là nơi địa lợi cho mọi hoạt động bí mật của các lực lượng vũ trang cách mạng, bất lợi cho các hoạt động của địch.
Với tầm nhìn chiến lược Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Nơi đây là nơi tập dượt, đào tạo, huấn luyện cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhờ có địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc, các Đội Cứu quốc quân vẫn giữ vững lực lượng, bí mật hoạt động gây cơ sở, mở rộng căn cứ hậu phương kháng chiến ra ngoài vòng vây địch. Đầu tháng 11/1941, lễ thành lập Đội du kích Pác Bó (Cao Bằng) được tổ chức. Đến khai mạc, Người căn dặn: “Đội du kích Cao Bằng phải làm nòng cốt cho cho các lực lượng vũ trang nhân dân”. Sau một thời gian hoạt động (cuối năm 1941 đến tháng 7/1943), Đội du kích Cao Bằng đã thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.

Đó là thông qua hoạt động vũ trang tuyên truyền, đội làm nòng cốt trong việc xây dựng lực lượng vũ trang Công nông đầu tiên; các đội vũ trang châu, tổng, các đội tự vệ chiến đấu cấp xã ở các huyện và một số địa phương, căn cứ địa kháng chiến; Đội đã hỗ trợ phong trào quần chúng phát triển mạnh ở các tỉnh Việt Bắc. Khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, một số cán bộ và đội viên du kích Cao Bằng được tuyển chọn vào Đội quân chủ lực đầu tiên. Cũng từ Đội du kích Pắc Bó, nhiều cán bộ và đội viên của đội về sau trở thành các tướng lĩnh của quân đội như các đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang…

Giữa tháng 10/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi các Liên khu và đồng bào cả nước đề nghị triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc để thành lập chính quyền cách mạng Trung ương. Với tầm nhìn chiến lược, Người thấy thời cơ tổng khởi nghĩa đang đến gần: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa”. Người sớm nhận thấy vai trò chiến lược của bộ đội chủ lực, khi đã có đủ điều kiện, Người quyết định thành lập Đội quân chủ lực đầu tiên. Đầu tháng 12/1944, Người triệu tập đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh đến Pác Bó. Người chỉ định: Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công việc chuẩn bị thành lập Đội quân chủ lực đầu tiên. Chấp hành chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp vạch kế hoạch thành lập đội và báo cáo với Người, Người thông qua kế hoạch, thêm hai chữ “tuyên truyền” vào tên Đội Việt Nam giải phóng quân. Khi tiễn đồng chí Võ Nguyên Giáp trở về Tổng Hoàng Hoa Thám để thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người căn dặn: “Nhớ bí mật: Ta ở Đông, địch tưởng là ở Tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình”.

Là con đẻ của một dân tộc và nhân dân anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân các dân tộc Việt Nam ra đời và phát triển từ những đội tự vệ Công nông đầu tiên trên địa bàn rừng núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, căn cứ cách mạng Cao Bằng. Những năm 1939 - 1945 thời kì chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời như Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu Quốc quân, Đội quân du kích Ba Tơ. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, thống nhất các lực lượng vũ trang trong cả nước. Lần đầu tiên, một quân đội kiểu mới do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, một Quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, gắn bó máu thịt với nhân dân, đã không ngừng lớn mạnh và lập nên biết bao kỳ tích trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, trong các cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc, suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ của thế kỷ XX.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch và các thế lực thù địch hiếu chiến có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, sử dụng vũ khí công nghệ cao thì việc chọn và xây dựng địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số làm căn cứ địa cách mạng, căn cứ hậu phương tại chỗ là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và vì vậy, trong mọi trường hợp, điều kiện nếu chiến tranh xảy ra, thì địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc sẽ là nơi đặc biệt quan trọng bảo đảm cho tác chiến chiến lược và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện với cách đánh truyền thống sáng tạo “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”.

Quán triệt, học tập và nghiên cứu sâu sắc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chọn “đất cơ bản”, nơi địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đây là bài học kinh nghiệm quí giá, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm tư tưởng quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa và phát triển những di sản tư tưởng quân sự độc đáo, sáng tạo của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa quân sự thế giới của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khởi nghĩa vũ trang, kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Bài học ấy còn ý nghĩa thực tiễn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Địa bàn rừng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số mãi mãi là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

PGS.TS Trần Nam Chuân

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,270


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs