Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 30/11/2010
Trống đồng trong bản sắc văn hoá dân tộc Lô Lô Việt Nam

Dân tộc Lô Lô là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tổng dân số đến nay có hơn 4.000 người, cư trú chủ yếu ở các tuyến biên giới phía bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc thuộc các huyện Mèo Vạc và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang, huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng và một số huyện của tỉnh Lào Cai và Lai Châu. Trong các thư tịch cổ, người Lô Lô được gọi bằng những tên khác nhau như: Ô Man, Lu Lọc Màn, La La, Qua La, Di Nhân, Di Gia, Lạc Tô… Sau năm 1949 ở Trung Quốc gọi người Lô Lô là dân tộc Di. ở Việt Nam, các tộc người gọi người Lô Lô cũng khác nhau: đồng bào Tày gọi người Lô Lô là Pù Mỳa, người Hmông gọi người Lô Lô là Maz. Đồng bào Lô Lô tự gọi mình là Màn Trzì, Màn Chì hay Mùn Trizì (tùy thuộc vào cách phát âm của mỗi vùng). Lô Lô là tên gọi thông dụng từ lâu. Người Lô Lô gọi các tộc xung quanh mình đều thêm từ “Màn” (từ đệm), theo tiếng Việt nghĩa là người, chẳng hạn Màn Quấy (người Tày), Màn Xi (người Dao), Màn Chu (người Hmông)…

Người Lô Lô ở Việt Nam theo các nhà nghiên cứu chỉ chia làm 2 ngành: Lô Lô Hoa (Màn Trzì Qua) và Lô Lô Đen (Màn Trzì Nò). Nhưng qua nghiên cứu về dân tộc Lô Lô, theo chúng tôi, dân tộc Lô Lô ở Việt Nam hiện nay đang có 5 ngành theo sự phân biệt của chính nội bộ tộc người Lô Lô với các tiêu chí về phương ngữ (ngôn ngữ địa phương), đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, trang phục cũng như ý thức tự giác về tộc người. Dân tộc Lô Lô có chữ viết từ khá sớm. Một số nơi hiện còn lưu giữ được văn tự cổ Lô Lô, nhưng đến nay các cụ già Lô Lô không đọc được nữa. Đặc biệt nhất là người Lô Lô có truyền thống bảo lưu, sử dụng trống đồng từ xưa nay. Họ xem trống đồng là báu vật linh thiêng nhất, là biểu tượng sức sống của tộc mình, là sợi dây nối đời thường với thế giới thần linh, nối cõi sống với cõi chết.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi khâm phục trước sự quả quyết để bảo vệ một di sản là trống đồng mà người Lô Lô cho là vật thiêng của cộng đồng qua các thời kỳ lịch sử từ trước đến nay. Có thể nói, chính lòng dân đã tạo nên nét đặc trưng sống động đối với trống đồng. Mặc dù đã trải qua nhiều biến động phức tạp của lịch sử trên vùng đất biên giới, kể cả những hiểm nguy cho sự tồn tại của những chiếc trống đồng, nhưng chính lòng dân là yếu tố nội sinh cơ bản đã bảo vệ chúng, lưu giữ chúng. Thời chiến tranh, thời bao cấp có những khó khăn riêng. Thời mở cửa, trước những tác động của cơ chế thị trường ở vùng biên giới cũng có những biến động phức tạp. Trước đây do tác động từ nhiều phía cho nên chỉ có một sự lựa chọn là đấu tranh để giữ lại di sản của xóm làng, dòng họ, gia đình và cũng là của tộc người, thông qua quyền sở hữu về những chiếc trống đồng. Ngày nay, chính ngay trong nội bộ cộng đồng phải đứng trước một sự lựa chọn, nhưng lại là một sự tự nguyện trước những cám dỗ, hấp dẫn. Tính sống động đã được khoác những lớp áo muôn màu muôn vẻ, cho nên việc bảo vệ những chiếc trống đồng như là một di sản văn hóa truyền thống cũng phải rất đa dạng mới mong có được hiệu quả thiết thực. Điều này dân tộc Lô Lô đã cương quyết đưa ra những giải pháp chuẩn mực, những ứng xử trong văn hoá tâm linh gắn với sự sống còn của cộng đồng bằng mọi giá bảo vệ bằng được trống đồng.

Khi đề cập đến những chiếc trống đồng, phần lớn giới nghiên cứu thường đặt chúng trong phạm trù đối tượng của khảo cổ học. Những chiếc trống đồng trong tộc người Lô Lô ngoài ý nghĩa của đối tượng khảo cổ học, còn là đối tượng của dân tộc học. Những chiếc trống đồng các vùng người Lô Lô cư trú ở Hà Giang, Cao Bằng… vẫn còn sống cuộc sống đương đại. Chúng chưa phải là những hiện vật đã chấm dứt cuộc sống của mình để bước vào các Viện bảo tàng như các hiện vật khảo cổ khác. Phần lớn các trống đồng Hà Giang, Cao Bằng đều phát hiện trong các gia đình dân tộc Lô Lô, hoặc là vật gia đình có được do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể nói, trống được phát hiện qua con đường sưu tầm dân tộc học, theo phương pháp điền dã dân tộc học là chủ yếu. Đặc trưng của tính sống động này khiến cho quá trình nghiên cứu về trống đồng ở vùng người Lô Lô, tính đồng đại phải được đặt lên hàng đầu.

Tính sống động này không phải chỉ toàn tạo nên mặt thuận lợi, nhưng đứng về những nét chung, sự thuận lợi vẫn là căn bản. Với đặc trưng còn lưu giữ cẩn thận trong các gia đình cho nên sự tiếp xúc với chúng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Lòng tin vào cuộc sống nhân dân đã gửi vào trống đồng, cho nên trong công tác, điều chính yếu là phải tạo được niềm tin cho nhân dân, thì họ mới mang ra cho chúng ta có điều kiện tiếp xúc để nghiên cứu.

Đặc trưng về tính sống động của trống đồng Lô Lô đặt ra cho chúng ta cần nghiên cứu. Rõ ràng là công việc nghiên cứu này phải được tiến hành theo một hệ thống tổng thể, không những phải đa ngành mà còn phải được xúc tiến theo lối liên ngành. Sự tham gia tối thiểu phải có các ngành khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa dân gian, nghệ thuật dân gian. Với đối tượng là những chiếc trống, còn có cả tiếng trống, tức âm nhạc được hòa tấu cho các điệu múa do trống đồng đảm nhiệm. Cùng với quá trình biểu diễn này còn có lời ca, điệu múa, phong tục tập quán, một bức tranh tổng thể về văn hóa - xã hội.

Giáo sư Diệp Đình Hoa đã từng đề cập đến sự khác biệt của trống đồng Lô Lô với các loại trống đồng khác. Đây là điểm mới, tôi gọi là mới vì phần lớn các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và các nhà nghiên cứu trống đồng trên thế giới ít lưu ý đến. Chỉ có A.Kempers khi nghiên cứu về những chiếc trống đồng phát hiện ở Indonexia, cũng đã đề xuất những gợi ý mà thôi.

Trống đồng ở các tỉnh có tộc người Lô Lô cư trú, chủ yếu là những trống đồng phát hiện do dân lưu giữ để dùng vào các lễ trọng đại như: tang ma, lễ cúng thổ thần, lễ cúng sức khỏe, lễ tế trời…

Trong Lễ tế trời (mồ pí) người Lô Lô dùng loại trống gọi là Mồ Dảnh (Trống Trời). Lễ cúng thổ thần (mể pí) thì dùng loại trống gọi là Po Dảnh(Trống ếch). Trong tang ma đồng bào dùng loại trống gọi là Múi Dảnh, Thắng Dảnh (Liên quan đến sự tích Trống đực, trống cái).

Ba loại trống với ba chức năng khác nhau. Đây là một cách phân loại theo chức năng. Hiện nay trống đồng dùng trong lễ cúng thổ thần được gọi là trống ếch, sự giải thích của các cụ tương đối thống nhất. Đó là những chiếc trống đồng, trên mặt trống có gắn các khối tượng cóc hoặc nhái.

Trống đồng trên mặt có gắn các khối lượng cóc, nhái, theo tư liệu đã biết hiện nay, gồm trống loại I Hêgơ muộn, trống loại II Hêgơ, trống loại III Hêgơ. ở vùng dân tộc Lô Lô cách phân loại theo dân tộc học này tương đương với các phân loại về trống Đông Sơn thuộc loại muộn.

Hiện nay, tư liệu dân tộc học cung cấp được những thông tin về loại trống dùng trong tang ma một cách đầy đủ nhất. Người Lô Lô xưa nay vẫn đồng thời dùng hai loại trống đực và trống cái. Khi sử dụng bao giờ cũng dùng hai trống một lần. Trống chủ yếu dùng vào việc cúng ma người chết, đưa linh hồn người về nơi tiên tổ. Trống là vật thiêng của cộng đồng, đi đâu phải mang trống theo đó. Theo quan niệm của dân tộc Lô Lô, chỉ có theo tiếng trống đồng thì hồn người mới tìm được đường về tổ tiên, nơi rừng rậm, núi cao, có hang đá, nơi mặt trời lặn tức vùng đất mà từ đó người Lô Lô chia 4 ngả đường đi các nơi làm ăn sinh sống. Theo tập tục khi làm ma cho người lớn tuổi mới dùng trống đồng. Khi không dùng, trống được chôn xuống đất, ở một nơi sạch sẽ, kín đáo, gần nhà. Khi chôn, mặt trống để xuống dưới, chân trống trở lên trên, rồi lấy đất phủ kín. Chỉ khi nào có người chết, trống mới được đào lên. Lúc đào lên có cúng rượu và thịt cho hồn trống. Bài cúng khấn rằng: “Chúng tôi đào lên sẽ chôn lại. Xin hồn trống bảo vệ làng bản yên lành, phù hộ cho mùa màng tươi tốt”.

Khi đánh trống đồng cũng là lúc đọc bài cúng đưa hồn người chết và mọi người nhảy múa xung quanh xác người chết.
Đối với trống đồng về mặt phân loại khảo cổ học, cơ bản có 2 xu hướng:

- Phân loại theo Ph.Hêgơ

- Phân loại theo vật chuẩn

Các nhà nghiên cứu nước ta về cơ bản dựa vào cách phân loại của Hêgơ. Tuy vẫn theo cách phân chia làm 4 loại, nhưng ý kiến vẫn còn có những điểm không giống nhau. GS Diệp Đình Hoa trong báo cáo ở Học Viện dân tộc Quảng Tây năm 1993, đã phân chia trống đồng ra làm 15 loại. Các nhà nghiên cứu phân loại khảo cổ học về trống đồng của Trung Quốc, dĩ nhiên có liên quan nhiều đến trống đồng Lô Lô.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, trừ Uông Ninh Sinh, năm 1978 và các nhà nghiên cứu ở Bảo tàng Vân Nam, nói chung đều theo các phân loại theo vật chuẩn. Trước năm 1978, cách phân loại của họ nhìn chung là chưa thống nhất. Hội nghị trống đồng lần thứ nhất, đa số nghiêng về cách phân loại theo vật chuẩn, đến Hội nghị trống đồng lần thứ hai, về cơ bản đi đến thống nhất. Hội nghiên cứu trống đồng thời cổ đại đã căn cứ vào những ý kiến đó đề xuất về sự phát triển của trống đồng Trung Quốc qua 8 loại hình. Tuy vậy đến Hội nghị quốc tế lần thứ hai về trống đồng cổ và đồ đồng ở Nam Trung Quốc và Đông Nam á lại có ý kiến đề xuất một hướng phát triển khác.
Xu thế do Hội nghiên cứu trống đồng thời cổ đại Trung Quốc do Hầu Thương Nhạc đề xuất 1993.

Trên cơ bản có thể thấy rằng 4 loại hình: Vạn Gia Bá, Thạch Trại Sơn, Lãnh Thủy Xung, Tuân Nghĩa tương đương với loại I Hêgơ. Hai loại hình Bắc Lưu và Linh Sơn là tương đương với loại II Hêgơ. Loại hình Tây Minh tương đương với loại II Hêgơ. Loại hình Mã Giang là tương đương với loại IV Hêgơ và I-IV. Đây là loại trống phổ biến trong tộc người Lô Lô.

Trên những trống đồng phát hiện có những ký hiệu, mà nhiều nhà nghiên cứu đã nêu lên giả thiết về sự tồn tại loại chữ Lô Lô. Bộ chữ Lô Lô, Savina đầu thế kỷ xx đã có sự giới thiệu những ký hiệu của các từ thường dùng so sánh với chữ Mèo (Mông), hơn 240 kí hiệu. Golouvew khi nghiên cứu về những hình khắc trên đá Sapa, Lào Cai cũng nêu lên giả thiết về sự tồn tại những ký hiệu có liên quan đến chữ viết của người Lô Lô . Tư liệu về dân tộc học người Di ở Trung Quốc, được các nhà nghiên cứu Trung Quốc công bố cũng đã cho thấy sự tồn tại của bộ chữ này. Tuy vậy từ những vấn đề đã biết liên hệ để giải mã những kí hiệu trên trống đồng Lô Lô còn là một đề tài quá rộng lớn, chưa thể nào giải mã nổi

Âm nhạc của trống đồng Lô Lô cũng đã được một số nhà nghiên cứu ghi chép đang ở dạng tư liệu. Người Lô Lô hiện có hơn 36 điệu múa được trống đồng diễn tấu. Dĩ nhiên con số 36 chỉ là con số phiếm chỉ, phản ánh một số lượng rất lớn theo cách diễn đạt dân gian. Hơn nữa, trống đồng Lô Lô ngày nay chỉ diễn tấu trong trường hợp tang ma, cho nên sự nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào thời cơ. Âm nhạc do trống đồng diễn tấu chắc chắn sẽ còn là một đề tài hấp dẫn lâu dài.

Về mặt phong tục tập quán đến bản sắc văn hóa tộc người, sự tác động của trống đồng trong việc sử dụng trống đồng với công dụng của chúng qua các dịp lễ là sự khẳng định vai trò của trống đồng trong bản sắc văn hoá dân tộc Lô Lô. Người Lô Lô khi sử dụng treo trống, hai mặt đối với nhau, sử dụng trống đồng như một lễ khí, một loại đồ tế tự, khác với một số tộc người sử dụng chúng như một thứ nhạc cụ. Ghi nhận những sự khác biệt này để cho thấy những phương hướng về việc nghiên cứu trống đồng trong tộc người Lô Lô, cũng như nghiên cứu trống đồng nói chung, còn rất nhiều vấn đề để triển khai.

Tài liệu dân tộc học về việc sử dụng trống của người Lô Lô là những tư liệu vô cùng quan trọng, cho phép chúng ta tìm hiểu nhiều mặt về một thời quá khứ. Những vấn đề đã nêu ra trên đây chưa phải là tất cả, đó chỉ là những điều mà trong quá trình nghiên cứu về trống đồng dân tộc Lô Lô chúng tôi đã có lưu ý đến. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày vấn đề trống đồng trong bản sắc văn hoá dân tộc Lô Lô, tộc người duy nhất hiện nay còn lưu giữ và sử dụng trống đồng.

 TS. Lò Giàng Páo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,994


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs