Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Dân tộc Chu Ru


Dân tộc Chu Ru còn có những tên gọi khác là người Chơ, Ru, KNu, Thượng. Hiện nay, Chu Ru đã trở thành tên gọi chính thức của dân tộc này. Họ cư trú chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng và một số ít ở các tỉnh Ninh Thuận, Gia Lai. Dân tộc Chu Ru có khoảng 19.314 người, đa số nói tiếng Chu Ru-một ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia. Tuy nhiên, do cư trú lân cận với người Cơ Ho nên một bộ phận dân tộc Chu Ru cũng nói tiếng Cơ Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Mặt khác, do địa bàn cư trú tương đối thuận tiện cho việc tiếp xúc với các dân tộc ở vùng đồng bằng như người Kinh, người Chăm nên có nhiều người Chu Ru biết nói tiếng phổ thông và viết chữ quốc ngữ.

Người Chu Ru biết định canh định cư và làm ruộng từ lâu đời. Nghề trồng trọt chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế của họ và lúa là cây lương thực chủ yếu. Ngoài ra họ còn trồng ngô, khoai, sắn và một số loại rau, đậu trên rẫy hoặc trong vườn. Ruộng (hama) trước đây thường chỉ làm một mùa và có thể tạm chia làm hai loại: ruộng sâu, ruộng sình (hama-gluh) và ruộng khô (hanha-khác). Do điều kiện địa lý nên ruộng ở từng vùng có những đặc điểm khác nhau, vì thế kỹ thuật canh tác cũng có những nét riêng. Tuy nhiên lối canh tác cổ truyền mà người Chu Ru có nhiều kinh nghiệm nhất là làm thủy lợi nhỏ để điều tiết lượng nước trong từng thời kỳ sinh trưởng của cây lúa...

Dân tộc Chu Ru cũng chăn nuôi trâu, bò, heo, dê, ngựa và nhiều loại gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng… Trâu, bò thường được dùng làm sức kéo trong sản xuất nông nghiệp. Ngựa dùng làm phương tiện chuyên chở cho những chuyến đi xa trao đổi hàng hóa với các dân tộc khác. Trong các loại gia súc lớn, trâu được nuôi nhiều hơn cả. Ngoài việc dùng làm sức kéo, trâu còn được dùng trong các lễ nghi, tín ngưỡng cổ truyền, cưới xin hoặc dùng làm vật ngang giá để mua bán, trao đổi... Người Chu Ru có thói quen săn bắn để chống các loại thú rừng phá hoại mùa màng. Đồng bào làm nhiều loại bẫy khác nhau để bắt cầy, cáo, gà rừng... Ngoài ra, đánh cá cũng là một nghề phụ tương đối phổ biến trong các gia đình.

Phương thức hái lượm hiện vẫn là một nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày cho đồng bào Chu Ru. Trước đây, bà con thường hái các loại rau rừng, măng và một số hoa quả dại, đào các loại thân củ chụp, củ mài để ăn thay cơm hoặc kiếm các loại lâm sản: mộc nhĩ, nấm hương, mật ong... để dùng, nhưng nay chủ yếu là để bán hoặc trao đổi với các dân tộc khác. Người Chu Ru biết làm những sản phẩm thủ công như đồ dùng gia đình bằng mây tre và các công cụ rèn như: liềm, cuốc, nạo cỏ phục vụ cho sản xuất và đời sống hàng ngày. Đặc biệt làm gốm là nghề thủ công truyền thống của người Chu Ru. Những làng như: Krang gõ, Krang chớ... là những nơi nổi tiếng về nghề gốm cổ truyền. Tuy nhiên, nghề dệt lại không phát triển, vì vậy hầu hết trang phục cổ truyền như: áo, khố, váy..., đều phải mua hoặc trao đổi với các dân tộc láng giềng như người Chăm, Cơ Ho, Mạ... Xã hội cổ truyền Chu Ru dựa trên cơ sở làng (plei), một làng bao gồm nhiều dòng họ hoặc gồm cả những người khác tộc cư trú. Trong làng có một số chức danh chủ chốt, chăm lo việc chung. Đứng đầu làng là Pơ Play (Trưởng làng), do tất cả thành viên lựa chọn trong số những người đàn ông cao tuổi nhất của làng (các tha plơi). Trưởng làng là người phải được đông đảo thành viên trong làng tín nhiệm, là người có kinh nghiệm sản xuất, cũng như am hiểu về lịch sử, phong tục của làng và dân tộc mình. Chủ làng là người đóng vai trò hướng dẫn dân làng trong tổ chức sản xuất và đời sống, cùng với các già làng bàn bạc và giải quyết mọi công việc đối nội, đối ngoại của làng, là người có uy tín tuyệt đối và làm chủ các lễ nghi của cộng đồng làng.

Thầy cúng (yuh, pơ dô hoặc gru) là linh hồn của các buổi tế lễ chung của cộng đồng làng cũng như các gia đình lớn và dòng họ. Khi nào có việc cúng kiếng, ông được dân làng mời đến hành lễ.

Mỗi làng thường có một người phụ trách công việc thủy lợi và hai người giúp việc là người có khả năng về thủy lợi và có đức tính công bằng có nhiệm vụ phân phối đều lượng nước từ các mương, máng công cộng đến từng thửa ruộng của các gia đình. Trưởng thủy cũng do tập thể các thành viên trong làng bầu ra.

Trong xã hội cổ truyền của người Chu Ru, gia đình lớn vẫn duy trì chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò người vợ, người cậu (miăh) và quyền thừa kế tài sản thuộc về các người con gái. Gia đình lớn đó thường có từ ba đến bốn thế hệ cùng chung sống dưới mái nhà dài. Những người trong một nhà, có ruộng đất, trâu bò, nông cụ chung. Họ cùng sản xuất và hưởng chung sản phẩm. Sản phẩm lao động của gia đình lớn (sáng tơ prông) được nhập vào một kho và họ ăn chung một nồi lớn (gõ prông). Đứng đầu gia đình lớn là một người đàn ông cao tuổi nhất, thông thường là chồng người đàn bà thuộc thế hệ trên. Trong thực tế, ông chủ gia đình lớn là người thừa hành những ý kiến của người vợ và những người anh em trai của vợ (miăk).

Người Chu Ru vốn cư trú trên một lãnh thổ tương đối ổn định nên từ trước đến nay, thường có quan hệ hôn nhân trong nội bộ dân tộc. Tuy nhiên, họ vẫn có ít nhiều quan hệ hôn nhân với người Cơ Ho và người Raglai láng giềng. Chế độ hôn nhân của người Chu Ru là một vợ một chồng, cư trú bên nhà vợ và phụ nữ đóng vai trò chủ động trong hôn nhân.

Người Chu Ru còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán như việc thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng đa thần. Lễ cúng tổ tiên (pơ khi mô cay) khác hẳn với lễ cúng tổ tiên của người Kinh. Việc hành lễ không có ngày tháng nào nhất định. Có thể hai, ba năm hoặc hai, ba mươi năm mới cúng một lần, tùy theo hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Trong nhà người Chu Ru cũng không có bàn thờ hay bài vị. Họ chỉ lập bàn thờ và tiến hành nghi lễ vào một dịp nào đó ngoài nghĩa địa (kốt a tâu).

Người Chu Ru có một vốn ca dao, tục ngữ phong phú, trong đó nổi bật là những câu ca tụng chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Họ có kho tàng truyện cổ ca ngợi cuộc đấu tranh bất khuất với thiên nhiên và xã hội để giành lấy cuộc sống hạnh phúc. Đến nay, đồng bào Chu Ru còn lưu truyền một số trường ca mà các già làng thường kể bên bếp lửa cho con cháu nghe, suốt đêm này qua đêm khác... Kho tàng văn hoá dân gian của đồng bào Chu Ru không chỉ có giá trị về mặt văn học nghệ thuật, mà còn là một nguồn tư liệu lịch sử quý giá. Về nhạc cụ, ngoài trống, kèn (rơkel), đồng la (sar)... còn có r’tông, kwao, tenia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong những ngày vui, họ thường tấu nhạc với điệu Tam-ga, một vũ điệu điêu luyện mang tính cộng đồng, hầu như người nào cũng biết và ưa thích.

Thái Hà

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,432


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs