Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2011
Để dạy và học tiếng dân tộc có hiệu quả


Việc dạy và học tiếng dân tộc thiểu số đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm, vấn đề này được thể hiện ở các văn bản pháp luật như: Nghị định 206/CP và Thông tư 14/TT ngày 12/4/1962 của Bộ Giáo dục hướng dẫn thực hiện Nghị định 206/CP của Chính phủ về dạy chữ dân tộc trong các trường lớp phổ thông và xoá mù chữ; Quyết định 153/CP và Thông tư 19/TT ngày 18/2/1972 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện Quyết định 153/CP của Chính phủ về dạy chữ dân tộc trong ngành giáo dục; Quyết định số 53/CP ngày 22 tháng 2 năm 1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số; Luật Giáo dục…

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương tích cực biên soạn chương trình dạy tiếng và chữ dân tộc trong nhà trường. Đến năm học 2008-2009, cả nước có 17 tỉnh, thành phố thực hiện việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số trong trường phổ thông như: Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ, Đắc Lắc, Gia Lai, Lào Cai, Yên Bái... Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số được triển khai ở 646 trường, 4.518 lớp với 105.638 học sinh. Trong năm học này, cả nước có 1.223 giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số, hầu hết đều là người dân tộc thiểu số.”

Để tăng cường hơn nữa việc đưa tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số vào giảng dạy ở các cấp giáo dục. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo đó, tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số sẽ là môn học trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên khi đảm bảo 5 Điều kiện quy định tại Điều 3 như sau:

1- Người dân tộc thiểu số có nguyện vọng, nhu cầu học tiếng dân tộc thiểu số;

2- Bộ chữ tiếng dân tộc thiểu số được dạy và học trong nhà trường phải là bộ chữ cổ truyền được cộng đồng sử dụng, được cơ quan chuyên môn xác định hoặc bộ chữ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn;

3- Chương trình và sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số được biên soạn và thẩm định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

4- Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiếu số đạt trình độ chuẩn đào tạo của cấp học tương ứng, được đào tạo dạy tiếng dân tộc thiểu số tại các trường cao đẳng, đại học sư phạm, khoa sư phạm;

5- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tiếng dân tộc thiểu số theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Có thể nói, đây là những kết quả đáng khích lệ mà Đảng, Nhà nước, Chính quyền các cấp và đồng bào dân tộc thiểu số ở một số địa phương đã phấn đấu trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, chúng ta cần có những nghiên cứu, khảo sát, đánh giá một cách khách quan, chính xác những kết quả đã đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc, tồn tại khi dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian vừa qua. Trong bài viết này, tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến các điều kiện đưa tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số vào dạy và học trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên như sau:

- Điều kiện: “Người dân tộc thiểu số có nguyện vọng, nhu cầu học tiếng dân tộc thiểu số” – Đây là một điều kiện thực sự có ý nghĩa và đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số nếu được thực hiện tốt, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả khi đưa tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số vào dạy và học tại địa phương. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là: Nguyện vọng ấy có được đáp ứng không? Làm thế nào để đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu đó? Nguyện vọng đó là gì?

Theo tôi, nguyện vọng của đồng bào khi học tiếng nói và chữ viết là: Họ được học những gì, nội dung, chương trình học ra làm sao, khi học xong họ tiếp thu được những gì, việc sử dụng tiếng nói, chữ viết (đặc biệt là chữ viết) của họ trên thực tế sẽ như thế nào, thậm chí họ sẽ được học loại chữ nào (đối với đồng bào có nhiều loại chữ viết, ví dụ: Dân tộc Mông) và nguyện vọng cuối cùng của họ là được sử dụng chính tiếng nói, chữ viết của mình để sưu tập, nghiên cứu các giá trị văn hóa – nghệ thuật, phong tục tập quán, sáng tác văn học – nghệ thuật… để con cháu của họ được nghiên cứu, tìm hiểu, học tập. Như vậy, để đáp ứng được những nguyện vọng đó thì đòi hỏi các cơ quan chức năng, mà quan trọng nhất là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần có những cuộc khảo sát, chương trình nghiên cứu, thảo luận, lấy ý kiến của đồng bào trên thực tế ở từng địa phương.

Ví dụ: Việc đưa chữ Mông vào dạy và học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ trước đến nay là chữ Mông Việt Nam (hay còn gọi là chữ Mông Lào Cai). Tuy nhiên, ở một số địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên (theo khảo sát của bản thân trên thực tế)…, đồng bào lại có nguyện vọng, nhu cầu học chữ Mông Quốc tế. Và thực tế ở Thái Nguyên, đã đưa chữ Mông Quốc tế vào dạy và học cho các cán bộ, chiến sỹ Công an tỉnh Thái Nguyên. Mặc dù, chữ Mông Quốc tế không phải là loại chữ được đưa vào chương trình dạy và học theo quy định của Nhà nước ta nhưng loại chữ này được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Internet, website, video, phim, sáng tác văn học- nghệ thuật mà đặc biệt là được một số Giáo sư, Tiến sĩ người Mông ở nước ngoài nghiên cứu viết thành các cuốn sách về lịch sử, phong tục tập quán, từ điển, tiểu thuyết, báo chí, văn hóa về dân tộc Mông….được đông đảo độc giả ở các nước trên thế giới quan tâm. Đồng bào dân tộc Mông trên thế giới cũng như ở Việt Nam được tìm hiểu chữ Mông Quốc tế qua nhiều kênh thông tin nói trên, đồng thời chữ Mông Quốc tế là một loại chữ dễ sử dụng, dễ thể hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó, hầu hết thanh niên đồng bào dân tộc Mông ở Việt Nam đều biết sử dụng thành thạo loại chữ này (dù chưa có cuộc khảo sát chính thức nào nhưng tất cả những học sinh, sinh viên Mông do tôi trực tiếp khảo sát thì có trên 80% biết sử dụng thành thạo chữ Mông Quốc tế, và khoảng 5% biết chữ Mông Lào Cai, thậm chí những cán bộ, giáo viên đã được đào tạo, bồi dưỡng chữ Mông Lào Cai nhưng lại không biết đọc sau một thời gian ngắn).

Như vậy, chữ Mông Quốc tế được sử dụng phổ biến và rộng rãi ở các địa phương trên và nếu đồng bào Mông ở những địa phương đó có nguyện vọng học chữ Mông Quốc tế thì có được đáp ứng không? Vấn đề này đã được đề cập tại điểm b khoản 2 Điều 4 Dự thảo Nghị định Quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số (năm 2009) như sau: “Với các dân tộc thiểu số có nhiều bộ chữ cùng tồn tại thì việc lựa chọn bộ chữ để dạy được căn cứ vào tính phổ biến của bộ chữ đã và đang được sử dụng ở địa phương.” Thế nhưng lại không được đề cập tại Nghị định này, vì vậy, các cơ quan chức năng cần lưu ý vấn đề này.

- Điều kiện thứ 2 quy định “Bộ chữ tiếng dân tộc thiểu số được dạy và học trong nhà trường phải là bộ chữ cổ truyền được cộng đồng sử dụng, được cơ quan chuyên môn xác định hoặc bộ chữ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn”.

Như vậy, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần có các cuộc khảo sát trên thực tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều loại chữ viết ở các địa phương, trong đó cần khảo sát một cách toàn diện (liên quan đến độ tuổi, nghề nghiệp, thành phần xã hội…) để trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và quyết định đưa loại chữ viết vào dạy và học có hiệu quả, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào.

Một điều kiện quan trọng nữa là: “Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiếu số đạt trình độ chuẩn đào tạo của cấp học tương ứng, được đào tạo dạy tiếng dân tộc thiểu số tại các trường cao đẳng, đại học sư phạm, khoa sư phạm”.

Thiết nghĩ đây là điều kiện quan trọng nhất và cần phải cân nhắc thận trọng. Quy định trên là cần thiết và đảm bảo chất lượng cho việc dạy và học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, nhưng trên thực tế số lượng giáo viên đạt trình độ chuẩn như trên chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng và trong khi đó các trường “Đại học, Cao đẳng đào tạo chuyên ngành dạy tiếng dân tộc thiểu số” còn rất ít cũng cần phải quan tâm. Do đó, việc tiêu chuẩn hóa trình độ giáo viên cũng phải quy định theo từng giai đoạn. Ví dụ: Những thế hệ trẻ Mông sử dụng chữ Mông quốc tế rất thành thạo, thậm chí có những người nắm rất chuẩn phong tục tập quán, bản sắc văn hóa dân tộc nhưng chưa được đào tạo tại các trường Đại học, Cao đẳng. Nếu những người này (qua kiểm tra) họ thực sự có khả năng thì chỉ cần đào tạo, bồi dưỡng các khóa học ngắn hạn cũng có thể tuyển dụng họ (nếu chữ Mông quốc tế được đưa vào chương trình đào tạo).

Tóm lại, nguyện vọng của đồng bào về việc học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là họ được học và sử dụng chữ viết ấy để nghiên cứu, sưu tầm, tổng hợp các giá trị văn hóa – nghệ thuật, phong tục tập quán của họ. Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định các điều kiện dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số như trên là phù hợp và tạo điều kiện tốt để sớm đưa tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số vào dạy và học theo quy định. Song, các cấp chính quyền cần quan tâm đến nguyện vọng và nhu cầu của đồng bào, vì đây là điều kiện làm cơ sở quan trọng, cơ bản cho việc thực hiện các điều kiện tiếp theo và chỉ có đáp ứng được những nguyện vọng này thì mới đảm bảo thực hiện Nghị định trên có hiệu quả trên thực tế (tạo bước đột phá trong việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số.

Vũ Bá Thông

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,898,092


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs