Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 11/10/2010
Đầu tư phát triển nhanh, bền vững vùng dân tộc, miền núi cần được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020

Trong di sản lý luận đồ sộ của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập một cách thỏa đáng lý luận về sự phát triển của các sự vật hiện tượng nói chung và sự phát triển trong xã hội nói riêng. Theo đó, do sự tác động lẫn nhau của các sự vật hiện tượng và sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập tồn tại bên trong sự vật làm cho sự vật vận động, phát triển.

Tính phổ biến của phát triển không đồng đều và những hiệu quả của nó

Sự phát triển không những mang tính khách quan, vốn có của sự vật mà còn mang tính phổ biến, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Phát triển không phải là sự tăng lên một cách thuần túy về lượng mà có sự thay đổi về chất, do những yếu tố bên trong sự vật quy định. Sự phát triển không phải diễn ra theo con đường thẳng tắp, trơn tru, mạch lạc, mà có những lúc quanh co, khúc khuỷa, thậm chí có lúc thụt lùi tạm thời. Sự phát triển của sự vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện khách quan bên ngoài và bản thân sự vật. Sự vật khác nhau thì phát triển khác nhau, điều kiện khác nhau thì phát triển khác nhau.

Lý luận về sự phát triển đã trở thành nguyên lý quan trọng cung cấp cho chúng ta một quan điểm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn đó là Quan điểm phát triển. Lý luận đó cũng chỉ ra rằng, để có sự phát triển cần có sự ổn định, cho dù là tương đối nếu không, sự vật không thể phát triển được.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ở chỗ, từ nguyên lý nói trên đưa đến một hệ quả là: Do sự vật khác nhau thì phát triển khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì phát triển khác nhau nên sự phát triển không đều cũng mang tính phổ biến.

Trong tự nhiên, chúng ta thấy rất rõ ràng về điều này. Có những vùng đất đai trù phú, mưa thuận gió hòa làm cho cây cối tươi tốt, thảm thực vật phong phú, các giống loài đa dạng, chẳng hạn như các vùng nhiệt đới; Cũng có những nơi đất đai khô cằn, thiếu nước thì sinh vật thưa thớt, thậm chí nhiều vùng không có hoặc có rất ít sinh vật sống được, như sa mạc Sahara.

Còn trong tư duy, Lênin đã từng nhấn mạnh rằng: Khi nói đến sự bình đẳng của cá nhân là trên phương diện xã hội chứ không thể có sự bình đẳng về phương diện sinh học. Sự khác nhau giữa các cá nhân về chỉ số IQ (chỉ số thông minh), EQ (chỉ số cảm xúc) là phổ biến.

Nhìn vào thực tiễn phát triển của lịch sử thế giới cho thấy, do các nguyên nhân: Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên (bao gồm cả vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên); những yếu tố truyền thống, lịch sử và đặc điểm văn hóa dân tộc; việc phát huy lợi thế so sánh; sự khôn ngoan và sáng suốt trong chính sách của các nhà cầm quyền; chất lượng dân số và nguồn nhân lực; sự nắm bắt những cơ hội do bên ngoài đem đến; những phát minh đi trước của yếu tố kỹ thuật,… đã dẫn đến một thực tế là giữa các quốc gia luôn có sự phát triển không đồng đều. Thời cổ đại đã nổi lên các trung tâm văn minh của nhân loại như: Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Lưỡng Hà, ấn Độ và Trung Quốc; thời trung đại: Trung Quốc. Thời cận đại: Anh, Pháp,… là những nước đầu tiên bước vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa trong khi nhiều nước đang tồn tại chế độ phong kiến. Thời kỳ này nước Anh được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. So với Anh và Pháp thì Mỹ và Đức là những quốc gia phát triển sau trên con đường tư bản chủ nghĩa nhưng hai quốc gia này đã phát triển rất nhanh, vượt cả Anh, Pháp và có tham vọng thôn tính các thuộc địa của Anh và Pháp. Đó là nguyên nhân sâu xa của các cuộc chiến tranh thế giới lần I và II.

Không chỉ giữa các quốc gia có sự phát triển không đều mà ngay trong một quốc gia cũng có sự phát triển không đều giữa các vùng, miền và giữa các tộc người. Những nước phát triển như Anh, Pháp, Thụy Sĩ…, những nước đang phát triển: Trung Quốc, ấn Độ, Braxin và những nước nghèo hiện nay đều phải đối mặt với sự phân tầng giai cấp, phân hoá giàu nghèo trong xã hội, và sự phát triển không đều giữa các vùng, miền.

Với một quốc gia đa dân tộc, nếu để tình trạng phát triển không đều giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số diễn ra một cách tự phát dẫn đến khoảng cách phát triển giữa các tộc người ngày càng cách xa, tạo ra sự khác biệt quá lớn về chất lượng sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa cư dân các đô thị và cả một phần ở nông thôn nơi kinh tế-xã hội phát triển hơn so với người dân sống ở các vùng núi khó khăn (chủ yếu là người dân tộc thiểu số) khi đó mâu thuẫn trong xã hội ngày một sâu sắc bởi tình trạng không công bằng, bất bình đẳng trong phát triển tạo ra. Để mâu thuẫn của quá trình phát triển không diễn biến phức tạp, vai trò của Nhà nước là phải chủ động can thiệp bằng những chính sách hỗ trợ thiết thực, tạo ra động lực để các vùng chậm phát triển đi lên, dần rút ngắn khoảng cách, sự chênh lệch giữa các vùng miền-yếu tố cơ bản đảm bảo sự ổn định xã hội và tăng cường gắn kết giữa các dân tộc trong một Quốc gia.

Đầu tư phát triển nhanh bền vững vùng dân tộc miền núi địa bàn xung yếu khó khăn nhất của đất nước

Nước ta có 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó có dân tộc Kinh là dân tộc đa số (chiếm khoảng 87% dân số cả nước) và 53 dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 13% dân số cả nước). Trình độ phát triển của các tộc người và giữa các vùng miền không đồng đều do nhiều nguyên nhân: điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sự ảnh hưởng của thiên tai, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố lịch sử văn hóa truyền thống, sự năng động của các nhà lãnh đạo địa phương,...

ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình chia cắt, dân trí thấp, trong sản xuất kinh doanh của đồng bào còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, ít có sự giao lưu trao đổi hàng hóa nên điều kiện hoà nhập còn nhiều khó khăn. Hiện nay, khi nền kinh tế của đất nước đã vượt qua khó khăn, giữ được mức tăng trưởng khá, đời sống của nhân dân nhìn chung được cải thiện rõ rệt so với trước đây. Theo dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thì “Qui mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tính theo giá thực tế ước đạt 106 tỷ USD gấp 2 lần so với năm 2005; Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1200 USD”. Nhưng giá trị sản phẩm thặng dư do xã hội làm ra lại tập trung chủ yếu ở các thành phố, trung tâm công nghiệp và các tỉnh ven biển nên mức sống, mức tiêu dùng và các tiện nghi sinh hoạt cùng với các hưởng thụ văn hóa đang có sự khác biệt rất lớn giữa thành phố, đô thị, đồng bằng với miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế trên cũng được đề cập trong Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đó là: “Trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng. Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, xoá đói giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng doãng ra”. Những số liệu minh chứng. Thu nhập bình quân đầu người ở thành phố Hồ Chí Minh là trên 2500 USD, thành phố Hà Nội: 1700 USD còn ở tỉnh Bắc Kạn là hơn 400 USD, Sơn La hơn 500 USD. Trong danh sách 62 huyện nghèo nhất trên cả nước đều ở địa bàn miền núi dân tộc. Số huyện nghèo tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Tây Bắc. Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện này đều từ 40, 50% trở lên. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới ADB tỷ lệ nghèo trong dân tộc thiểu số cao hơn 5 lần dân tộc đa số (Kinh). Hệ quả đưa đến là, nó mâu thuẫn với mục xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; Là mất công bằng bình đẳng trong thụ hưởng các yếu tố vật chất và tinh thần do sự phát triển chung của đất nước đem lại; Là sự khó khăn trong việc thực hiện chính sách xã hội; Là, nó chứa đựng nguyên nhân tiềm tàng gây mất ổn định chính trị xã hội do sự lợi dụng của các thế lực thù địch chống phá cách mạng, ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc…

Thực trạng phát triển không đều dẫn đến khoảng cách ngày càng lớn về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng, miền; mức sống của người dân giữa các dân tộc ở nước ta “ngày càng doãng ra”, đòi Đảng và Nhà nước phải có sự quan tâm đặc biệt với những giải pháp đủ mạnh và những chính sách thật cơ bản để giải quyết kịp thời những vấn đề “nóng”, thiết yếu như nghèo đói, thất học, thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước cho sinh hoạt và sản xuất của người dân… đồng thời đảm bảo cho sự ổn định và phát triển nhanh, toàn diện bền vững để miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước. Để quyết tâm chính trị trên được thực hiện, theo chúng tôi việc đầu tiên là phải tạo cho được sự thống nhất trong nhận thức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đưa Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX chỉ ra, đó là: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị”. Trong dòng chảy sôi động của cơ chế thị trường, cuốn hướng mọi đối tượng vào hoạt động kinh tế vẫn phải thấy vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách của cách mạng nước ta; thấy sự ổn định, phát triển ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi trực tiếp tác động chi phối đến sự ổn định về chính trị của đất nước cũng như sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa phương; thấy thực trạng kinh tế-xã hội thấp kém ở vùng dân tộc và miền núi-địa bàn căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng “phên dậu” của đất nước hiện nay cùng những hạn chế, yếu kém, những tiêu cực trong thực hiện chính sách dân tộc ở các địa phương đang được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chia rẽ đoàn kết các dân tộc, gây mất ổn định chính trị trong âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chúng. Những gì diễn ra ở Tây Nguyên tháng 2/2001, những tháng đầu năm 2002 và tháng 4/2004 cũng diễn biến gần đây ở các tỉnh Tây Bắc, Tây Nam bộ là những minh chứng.

Phải thấy rõ thực trạng, tiềm năng, thế mạnh của địa bàn dân tộc, miền núi cùng vai trò to lớn của đồng bào các dân tộc, trong lịch sử cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, đóng góp của đồng bào các dân tộc vô cùng to lớn. Những năm tháng đất nước chịu sự đô hộ của thực dân xâm lược, đồng bào các dân tộc thiểu số đã anh dũng đứng lên kháng chiến. Vùng căn cứ địa Việt Bắc là cái nôi, là đại bản doanh của cách mạng, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, Tây Nam bộ một lòng theo Đảng theo Bác Hồ làm cách mạng, sả thân hy sinh cho ngày toàn thắng. Hiện nay, trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cần nhận thức sâu sắc, phát huy đầy đủ vị trí, vai trò cùng tiềm năng, thế mạnh của miền núi vùng dân tộc thiểu số, là nơi ngọn nguồn của các con sông chảy xuống đồng bằng và đổ ra biển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân; nơi có rừng đầu nguồn giữ cho hệ sinh thái được cân bằng. Các nhà máy thủy điện sản xuất điện cho cả nước cũng đều ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tài nguyên thiên nhiên tập trung ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số phải được khai thác sử dụng hiệu quả phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; Bao đời nay miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải hứng chịu cảnh lũ ống, lũ quét, sạt nở đất. Hệ thống đường giao thông liên thôn trong bản chưa được đầu tư xây dựng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại, sản xuất, giao lưu hàng hoá của người dân; khiến cho cuộc sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều thiếu khổ, khó có cơ hội để phát triển. Thực tế trên ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phải được các cấp, các ngành và đồng bào cả nước thấy rõ, từ đó có những chia sẻ và đầu tư phát triển phù hợp. Để nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” được thực hiện. Khoảng cách phát triển về kinh tế-xã hội giữa các vùng miền và sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ các phúc lợi xã hội giữa các dân tộc được rút ngắn-nhân tố cơ bản quyết định sức mạnh và sự bền chặt trường tồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để phát triển kinh tế-xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần có nguồn lực kinh tế, tài chính mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo và hệ thống những cơ chế, chính sách với vai trò “bà đỡ” tạo môi trường và động lực cho phát triển. Các yếu tố trên ở miền núi vùng dân tộc thiểu số đều bất cập, chưa phù hợp với thực tế, chưa phát huy hết tiềm năng thế mạnh vốn có. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém phát triển kéo dài, chậm được khắc phục; làm cho mâu thuẫn trong phát triển ngày càng lớn và phức tạp. Mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Mục tiêu đó cùng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh biên giới và toàn vẹn lãnh thổ không cho phép để tình trạng kém phát triển ở miền núi vùng sâu, vùng xa, biên giới vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tồn tại kéo dài.

Lịch sử và hiện tại đã chứng minh: Địa bàn dân tộc, miền núi có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh và môi trường sinh thái; đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành động lực của cách mạng. Đồng bào các dân tộc đã và mãi là những người trực tiếp giữ vững biên cương và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Nên việc tập trung đầu tư để phát triển nhanh, bền vững kinh tế-xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số-địa bàn xung yếu hiện khó khăn nhất của cả nước là một tất yếu khách quan phải được thể hiện rõ trong Dự thảo các Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, nhất là trong Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020.

BTV Cao cấp: Nguyễn Phương Thảo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,468,139


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs