Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Đại hội XI của Đảng tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc, miền núi thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc


Đồng bào dân tộc thiểu số thu hoạch cà phê

Công cuộc đổi mới trong hơn 20 năm qua của đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Đời sống của nhân dân đã được cải thiện và nâng cao hơn nhiều lần so với trước cả về của cải vật chất và văn hoá tinh thần. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần. Trong những năm đổi mới, việc giải quyết các nhiệm vụ của công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn, đồng thời cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém.

Ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, kết cấu hạ tầng bước đầu đã được xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đủ tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, nhất là từ địa bàn cơ sở. Trình độ canh tác lạc hậu, tỷ lệ đói nghèo còn cao, tính chung còn khoảng 30 %, một số huyện, xã vùng núi đặc biệt khó khăn, tỷ lệ này còn cao hơn tỷ lệ bình quân chung rất nhiều, tới 50-60%, thậm chí có xã miền núi còn tới 70% hộ dân đói nghèo. Đi liền với đói nghèo là tình trạng mù chữ, thất học, đau ốm bệnh tật trong các cộng đồng dân cư. Bình quân hàng năm có khoảng 7% số hộ tái nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo. Chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới còn rất thấp.

Theo số liệu thống kê xếp loại thì nhóm các tỉnh thành đứng cuối bảng chỉ số xếp hạng HDI và GDP đều là các tỉnh miền núi. Nếu lấy tỉnh Lai Châu là tỉnh có chỉ số thấp nhất so với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì GDP của Lai Châu chỉ bằng 4% GDP của Bà Rịa - Vũng Tàu.

Theo thống kê năm 2001, tỷ lệ thanh thiếu niên dân tộc thiểu số đang đi học so với cả nước còn khá thấp. Tính chung cả nước là 17.087.246 người thì các dân tộc thiểu số chỉ có 4.231.720 người. Tỷ lệ chưa bao giờ đi học ở các dân tộc thiểu số còn rất cao, tính chung trong cả nước là 9,3%, trong khi đó các dân tộc thiểu số là 24,7%. Trong 53 dân tộc thiểu số thì có 10 dân tộc chưa có người học đại học, cao đẳng, 5 dân tộc chưa có người học trung học chuyên nghiêp, 10 dân tộc chưa có người học các trường đào tạo công nhân kỹ thuật, 40 dân tộc chưa có người học sau đại học. Do trình độ dân trí thấp nên đồng bào các dân tộc thiểu số rất khó khăn trong việc tiếp thu chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong việc tham gia quản lý kinh tế-xã hội ngay trên buôn làng của mình và khó tiếp thu khoa học kỹ thuật và phương thức sản xuất mới.

Đó là những nguyên nhân làm cho sự phân hoá giầu nghèo giữa đô thị, đồng bằng và miền núi ngày càng lớn và đồng bào các dân tộc khó có thể tự mình vươn lên hoà nhịp với sự phát triển chung của cả nước. Hơn nữa, hiện nay các thế lực chính trị phản động đang ráo riết lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm khoét sâu những khác biệt về dân tộc, tôn giáo, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, tiến hành hoạt động diễn biến hoà bình nhằm gây bạo loạn, lật đổ, đe doạ chủ quyền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tình hình trên đây đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Về thực chất, đây là công tác và chính sách đối với con người, liên quan đến vấn đề con người ở những khu vực đặc thù với những đặc trưng rất đa dạng về địa lý, dân cư, phong tục, tập quán, truyền thống. Do vậy, giải quyết vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trong tình hình hiện nay cần tập trung vào một số nội dung cơ bản sau đây:

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc. Có thể nói đây là yếu tố quyết định việc thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng nước ta và nhiệm vụ của công tác dân tộc nói riêng. Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và tuyệt đối của Đảng là nhân tố quyết định sự thắng lợi của công tác dân tộc, bởi chỉ có Đảng chân chính lãnh đạo thì công tác dân tộc mới đạt đến mục tiêu “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, mới có khả năng ngăn ngừa các biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn cũng như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tư tưởng kỳ thị và tâm lý tự ty dân tộc, hướng tới xoá bỏ tận gốc sự bất bình đẳng dân tộc. Đảng ta không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc mà đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời.

Với Đảng ta, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc không chỉ là quan điểm nhận thức mà còn là nỗ lực hành động, làm cho phát triển dân tộc không chỉ là nguyện vọng, là ý thức trách nhiệm mà còn là những việc làm thiết thực, những kế hoạch, những chương trình hành động để cho đồng bào ta ai ai cũng bình đẳng trong tư cách là chủ thể được thụ hưởng chính đáng, hợp lý những quyền và lợi ích của mình. Vì vậy, Đảng ta chủ trương nâng cao mọi mặt đời sống của đồng bào các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc vươn lên khắc phục sự chênh lệch về mức sống mà công cuộc xoá đói giảm nghèo được phát động là một biểu hiện thực tế của chủ trương ấy. Thời gian qua, với Chương trình 135 và các chương trình khác, chúng ta đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho đồng bào các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đã giúp đỡ hàng vạn gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số thoát khỏi cảnh nghèo đói. Tuy nhiên, đó chỉ là bước đầu, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phát triển kinh tế - xã hội thực sự mang tính đột phá, căn bản và bền vững đối với các vùng dân tộc và miền núi.

2. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều cố gắng đầu tư cho các vùng dân tộc và miền núi, song hiệu quả chưa tương xứng. Những yếu kém hiện nay có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu vẫn là hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý Nhà nước còn thấp. Vì lẽ đó trong quá trình triển khai các dự án đã xảy ra tiêu cực, gây thất thoát, lãng phí lớn cho ngân sách; nhiều công trình khi đưa vào sử dụng không phát huy được hiệu quả. Hạn chế đó làm cho đồng bào chưa nhận thức đầy đủ về chính sách ưu tiên của Nhà nước, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch phản động, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng.

3. Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đòi hỏi sự cộng đồng trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công tác dân tộc là công tác đối với con người, hơn nữa đây là những người hiện đang có nhiều khó khăn chịu nhiều thiệt thòi trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy, phải có sự hợp tác, cộng đồng trách nhiệm của cả hệ thống chính trị để giải quyết. Thực tế hiện nay cho thấy không thể khoán trắng cho cơ quan chuyên trách. Cần có sự lồng ghép các nội dung tư tưởng, xã hội vào các dự án kinh tế. Và điều quan trọng hơn đối với đồng bào là làm sao để đồng bào cảm nhận được trực tiếp thành quả mà các dự án kinh tế, các chương trình xoá đói giảm nghèo mang lại. Vì thế trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc cần phải hiểu đồng bào, phải nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng và kiên nhẫn, không được chủ quan, nôn nóng, áp đặt; đồng thời phải biết khai thác những tập quán, thiết chế văn hoá vẫn có ý nghĩa tích cực để làm cho chính sách phù hợp với các truyền thống đó, để đồng bào dễ tiếp nhận. Do đó cần có sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, các cơ quan phụ trách văn hoá và các cơ quan khác trong hệ thống chính trị.

4. Xây dựng luật dân tộc và chiến lược phát triển toàn diện và bền vững các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong một số bộ luật, luật và pháp lệnh có đề cập đến vấn đề dân tộc. Tuy nhiên như Đại hội IX của Đảng khảng định, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Do đó, cần phải xây dựng Luật dân tộc đầy đủ và toàn diện làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) và Luật dân tộc, Chính phủ cần xây dựng Chiến lược phát triển toàn diện và bền vững các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, tập trung thống nhất vào một đầu mối để tránh trùng lặp, dàn trải, chồng chéo, gây lãng phí, kém hiệu quả. Chiến lược đó lấy Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ làm trọng điểm, lấy phát triển kinh tế-xã hội và giáo dục làm trung tâm, vì phát triển kinh tế xã hội là sơ sở để phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; ngược lại, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí lại thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và các mặt khác. Nếu dân trí thấp thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển, đến việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Do đó, việc giáo dục nâng cao dân trí có tầm quan trọng đặc biệt không thể xem nhẹ.

Bốn vấn đề nêu trên là những định hướng và căn cứ cho việc thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hệ quan điểm và phương hướng đó sẽ là cơ sở để xác lập các giải pháp nhằm hiện thực hoá mong muốn của Đảng ta là rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số. Để bình đẳng giữa các dân tộc được thực hiện, khối đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc.

Nhân dân cả nước đang hướng về Đại hội lần thứ XI của Đảng, Đại hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, để đến năm 2020, nước ta một quốc gia, có 54 tộc người cùng chung sống, cơ bản trở thành một nước công nghiệp, đạt được mặt bằng về trình độ phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động thuộc tất cả các tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

PGS-TS. Nguyễn Hoài Văn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,507,772


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs