Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Biện chứng giữa độc lập và tự do, Hạnh phúc trong tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh


Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình

Cách đây tròn 65 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, tuyên bố thủ tiêu ách thống trị của thực dân, phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những khẳng định về chủ quyền quốc gia và nền độc lập của Việt Nam mà còn lường trước những việc lớn có liên quan đến sự tồn vong, an nguy của nước nhà. Qua đó thể hiện tư duy biện chứng, tầm nhìn xa, rộng của Người.

Mở đầu Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp. Việc Người lựa chọn hai bản Tuyên ngôn này thật ý nghĩa. Người đã đi hầu khắp các châu lục, đã đặt chân tới nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và cả những quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, đã nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các triết thuyết chính trị chủ yếu trên thế giới và Người chọn hai bản tuyên ngôn đó để tạo một “điểm tựa” cho Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam và để vạch bộ mặt thật của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Hơn nữa, Pháp, Mỹ là những quốc gia lớn, đóng vai trò quan trọng trong phe Đồng minh chống phát xít. Việt Nam cũng đứng về phe Đồng minh chống phát xít Nhật ở Châu á cho nên Việt Nam càng phải được hưởng độc lập. Ngoài ra, đây là hai văn kiện có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, thể hiện nổi bật giá trị tư tưởng về độc lập, tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của mỗi quốc gia dân tộc. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trích dẫn các bản tuyên bố của Chính phủ Mỹ để tiếp tục khẳng định về chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai thác và kế thừa các giá trị phổ biến của nhân loại và dùng chính những tư tưởng về tự do, bình đẳng của Pháp để phủ định sự thống trị của chúng ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn vận dụng nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong phép biện chứng duy vật mácxít để đi đến sự khẳng định về nền độc lập của Việt Nam. Người đã đặt cái riêng là Việt Nam trong cái chung là nhân loại và Việt Nam là một bộ phận của cái chung đó. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do, đó là cái chung, Việt Nam là một bộ phận của thế giới và do vậy, Việt Nam cũng phải được hưởng quyền bình đẳng và tự do. Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã đi từ những hiện tượng để rút ra bản chất của thực dân Pháp, đó là: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng…”. Thông qua những hiện tượng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ bản chất của thực dân Pháp là xâm lược, ăn cướp chứ không phải là “khai hóa văn minh” như những lời chúng vẫn rêu rao. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là nhằm cướp bóc tài nguyên, bóc lộc nhân công, tiêu thụ hàng hóa nhưng chúng lại lấy danh nghĩa là “bảo hộ”, “khai hóa văn minh” cho dân tộc Việt Nam.

Với việc vạch bộ mặt thật của thực dân Pháp đối với Việt Nam là “xâm lược”, “bán nước ta cho Nhật”, Hồ Chí Minh đã nêu lên một sự thật là “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp” nhằm phủ nhận toàn bộ quyền lợi, sự ảnh hưởng, vị thế của Pháp đối với Việt Nam, nhằm làm cho Pháp không có lý gì trở lại xâm lược Việt Nam. Tuyên ngôn tuyên bố đanh thép: “Chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.

Để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám và làm cho việc Việt Nam tuyên bố độc lập trở nên rộng rãi, trong khoảng thời gian từ khi nước ta được độc lập đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều thư, điện cho các chính khách, các nhà lãnh đạo của Pháp, Mỹ và đề nghị các nước này công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Tư tưởng nhất quán và xuyên suốt trong Tuyên ngôn độc lập là sự khẳng định về quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Nhưng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc giành lại nền độc lập của dân tộc không phải là mục đích cuối cùng mà là điều kiện để trên cơ sở đó thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người đã nhiều lần khẳng định “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ”. Khái niệm dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số mà bao gồm mọi “con dân nước Việt”. Thực tế là, mặc dù sau ngày tuyên bố độc lập, đất nước phải tiếp tục tiến hành chiến tranh để “giữ vững quyền tự do, độc lập” nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ ta đã có sự quan tâm đặc biệt thiết thực và cụ thể trong việc chống “giặc đói, giặc dốt” để lo cho dân có cái ăn, cái mặc, được học hành.

65 năm đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc Việt Nam đã đánh thắng nhiều kẻ thù lớn và ngày nay đang quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập của dân tộc. Dưới tác động của những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp cùng những ảnh hưởng của thiên tai mà hiện nay vấn đề đói nghèo, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn hiển hiện. Mặc dù được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được thụ hưởng những kết quả tích cực của các Chương trình 135, 134, Nghị quyết 30a… nhưng nhìn chung đời sống đồng bào ở đây vẫn còn ở mức rất thấp và ngày càng cách xa so với mức bình quân của đồng bào cả nước. Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số hiện vẫn còn rất nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn tinh vi đang không ngừng lợi dụng và khoét sâu vấn đề đó làm ảnh hưởng tới việc giữ gìn độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Điều đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải tiếp tục có những chính sách và những sự đầu tư phù hợp để đẩy nhanh phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, để rút ngắn khoảng cách phát triển với miền xuôi, vùng đồng bào đa số đảm bảo bình đẳng trong phát triển, đi lên của đất nước, nhân tố cơ bản quyết định củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào theo đúng mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đặng Đức Nghĩa - Nguyễn Đức Hòa

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,506,881


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs