Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng chè

 08/09/2010

Ảnh TL

Ngành chè có tiềm năng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện Việt Nam là nước xuất khẩu chè đứng thứ năm trên thế giới. Tuy nhiên, do chất lượng chè của ta chưa cao nên giá trị xuất khẩu của chè Việt Nam trên thị trường còn thấp. Đổi mới công nghệ trong ngành chè được coi là giải pháp quan trọng.

Sản lượng lớn, chất lượng chưa cao

Hiện nay, trên thế giới có hơn 60 quốc gia sản xuất chè, hơn ba tỷ người sử dụng tại 160 nước. Việt Nam có điều kiện khí hậu và đất đai rất phù hợp cho cây chè phát triển. Việt Nam đã có những thương hiệu chè nổi tiếng như: Shan Tuyết (Hà Giang), Suối Giàng (Yên Bái)... Ngành chè thu hút được một lực lượng lao động lớn, hơn sáu triệu người ở 34 tỉnh trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền núi.

Việt Nam hiện nay còn là nhà sản xuất, xuất khẩu chè đứng thứ năm trên thế giới. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu chè Việt Nam còn thấp chỉ đạt 1,4 USD/kg, thấp hơn so với mặt bằng giá chung của thế giới. Nguyên nhân chính làm giảm giá xuất khẩu chè Việt Nam là chất lượng chưa cao. Chúng ta chưa quản lý được chất lượng sản phẩm, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì chạy theo số lượng xuất khẩu nên chất lượng bị giảm xuống.

Chè Việt Nam được đánh giá là sản phẩm tốt trung bình, giá cạnh tranh và cần thiết để đấu trộn với các sản phẩm khác từ Xri Lan-ca, Kê-ni-a. Xuất khẩu chè Việt Nam vẫn chủ yếu là xuất thô. Có rất ít doanh nghiệp đầu tư vào thương hiệu, đóng gói để gia tăng giá trị chè, phân phối tới tay người tiêu dùng. Do đó, giá chè xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn thấp so với mức trung bình của thế giới.
Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam Ðoàn Anh Tuân cho biết: Những năm gần đây, nước ta xuất khẩu chè nhiều, nhưng tổng thu về không có gì thay đổi so với trước. Như vậy, đây là sự lãng phí một số lượng lớn về phân bón, than, điện, nguồn nhân công...

Cải tiến công nghệ nâng cao chất lượng

Ông Ðoàn Anh Tuân cho biết: “Thời gian tới ngành chè tập trung vào giải quyết hai vấn đề đó là nâng cao chất lượng chè, đặc biệt là đổi mới giống chè và quản lý chặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Những năm qua, chúng ta nặng về hình thức quảng bá, chú trọng đến logo. Trong khi đó, yếu tố quan trọng nhất tạo nên thương hiệu là chất lượng, dịch vụ đi kèm. Hiệp hội Chè Việt Nam sẽ tập trung các nguồn lực nâng cao chất lượng chè. Ðây là một trong những đổi mới của Hiệp hội, tạo bước ngoặt đối với ngành chè Việt Nam.

Cục trưởng Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Lê Xuân cho rằng: “Trong chế biến chè đầu tiên phải có chè tốt. Có chè tốt mà không có công nghệ tốt thì không tạo ra sản phẩm chất lượng tốt. Vì vậy, để có sản phẩm chè tốt thì vai trò của công nghệ là rất quan trọng. Doanh nghiệp cần tập trung trí tuệ và nguồn lực kinh tế để đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm chè, từ đó xây dựng thương hiệu, sản phẩm được thị trường thế giới công nhận, có giá bán cao”.

Ðể hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết 48. Theo đó, ưu tiên cho đầu tư phát triển công nghệ, góp phần làm giảm tổn hao trước, trong và sau thu hoạch đối với nông và thủy sản, trong đó có chè. Cụ thể, Nhà nước cho vay tín dụng 100% vốn đầu tư cở sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc, thiết bị đối với cơ sở chế biến chè, hỗ trợ lãi suất 100% trong hai năm đầu, năm thứ ba trở đi hỗ trợ 50%.

Ðây là chính sách lớn của Nhà nước đối với nông nghiệp nói chung và ngành chè nói riêng nhằm góp phần nâng cao giá trị nông sản hàng hóa.


Nguyễn Trang

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Kỹ thuật khai thác nhựa trám trắng (09/2010)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,898,139


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs