Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thuỷ điện Sơn La: Những ngày nước rút

 17/09/2010

Cô gái người dân tộc Dao và chang trai J’rai tại điểm hẹn Dốc.

Hàng loạt những cuộc di cư ồ ạt lên vùng đất Tây Nguyên đầy hứa hẹn vào những năm 90 của thế kỷ trước đã biến vùng đất Ia Piơr, huyện Chư Prông, Gia Lai thành nơi đa sắc tộc. Sự đồng cam cộng khổ của nhiều dân tộc anh em nơi miền đất mới đã từng bước phá tan những rào cản về phong tục tập quán, ngôn ngữ và văn hoá. Tình đoàn kết, gắn bó của 11 dân tộc anh em nơi đây đã hình thành nên một mái nhà chung thắm đẫm tình nghĩa ruột thịt và đa dạng về bản sắc văn hóa.

“Miền đất hứa" ... nhiều dân tộc

Là người từng gắn bó nơi vùng biên cương đầy khắt nghiệt này từ những ngày đầu, ông Đinh Trọng Linh, người dân tộc Mường cho biết: “Theo chủ trương di cư của nhà nước, năm 1993 chúng tôi đã đặt chân vùng đất này. Những ngày đầu đến đây với muôn vàn bỡ ngỡ, khốn khó. Mỗi hộ dân di cư chỉ được cấp một căn nhà tạm chừng 20m2. Bao quanh khu dân cư là rừng núi âm u. Bệnh sốt rét rừng luôn rình rập hàng ngày. Bên trong các dãy núi giáp biên giới, bọn Fulrô vẫn đang còn ẩn nấp và gây hoang man cho nhiều người. Mùa mưa nơi đây, đường lầy lội, nước ngập đường, đi lại khó khăn. Mùa nắng, rừng khô cỏ cháy, nước nôi lại cạn kiệt… Không chịu được gian nan, thử thách, 10 hộ dân di cư người dân tộc Mường đã hồi hương trở về quê cũ, 18 hộ dân còn lại cùng nương tựa nhau để vượt qua điều kiện cơ cực”.

Sau những tháng ngày chống chọi với bao gian khó nơi miền đất mới, đời sống của 18 hộ dân di cư người dân tộc Mường cũng dần đi vào ổn định và ngày càng có khấm khá hơn. Sự định cư ổn định của 18 hộ dân người Mường trên vùng biên giới xã Ia Lâu (huyện Chư Prông, Gia Lai), đã biến nơi đây thành miền đất đầy hứa hẹn cho nhiều hộ dân của hơn 10 dân tộc thiểu số từ vùng núi các tỉnh phía Bắc. Người dân đã tự tin theo chương trình di dân của nhà nước tiếp bước vào vùng đất Ia Lâu để định cư. Hàng loạt những cuộc di cư tự do từ khắp nơi cũng đổ xô lên vùng biên cương đầy khắc nghiệt này để khai hoang lập nghiệp. Năm 2002, để giảm bớt gánh nặng cho một quá đông dân cư, xã Ia Piơr được thành lập từ việc tách xã Ia Lâu ra làm 2 xã mới. Ia Piơr lúc này có đến 11 dân tộc khác nhau được phân bố tại 14 thôn, làng trên diện tích gần 9.570ha đất tự nhiên, tiếp giáp với huyện Rattnatakiri, nước bạn Campuchia và huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Ở đây, ngoài hai dân tộc J’rai, Bahnar là người bản địa đã định cư qua nhiều đời, còn lại các dân tộc như: Mường, Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, H’Mông, Mèo, Hoa và Kinh đều là người dân di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh khác. Cho đến nay, xã Ia Piơr đã có trên 9.000 nhân khẩu với khoảng gần 2.000 hộ dân.

Mỗi dân tộc là một ngôn ngữ, một phong tục tập quán và văn hóa riêng biệt. Việc giao tiếp, quan hệ xã hội giữa các dân tôc trên địa bàn là cực kỳ khó. Tuy nhiên, với cuộc sống gian truân nơi vùng đất mới đã giúp cho tình đoàn kết, tương thân tương ái... của các dân tộc anh em trên địa bàn ngày càng gắn bó hơn.

Trao đổi với chúng tôi, ông Đinh Trọng Linh, tự hào cho biết: Từ nhiều năm qua, bà con nhân dân các thôn, làng trong xã luôn đùm bọc, đoàn kết lẫn nhau. Các thôn, làng đã tự nguyện kết nghĩa với nhau để cùng giúp đỡ và trao đổi những kinh nghiệm sản xuất. Theo tiêu chí của xã, cứ 3 thôn người đồng bào dân tộc phía Bắc thì kết nghĩa với một làng người dân tộc bản địa. Đặc biệt, ở đây có làng Phung hầu hết là người J’rai bị bệnh phong hoặc bị phạm những luật tục của làng... bị cộng đồng xa lánh đuổi ra khỏi làng sống tách biệt; từ khi có môt hình kết nghĩa, người dân làng Phung đã không còn sự miệt thị của cộng đồng. Các dân tộc khác nhau đã cùng chia sẻ những khó khăn để vượt qua bênh tật và đói nghèo...

Văn hóa giao hòa vượt mọi cách ngăn

Sự đồng cam cộng khổ của nhiều dân tộc anh em nơi vùng biên giới khắc nghiệt đã từng bước phá tan những rào cản về phong tục tập quán, ngôn ngữ và văn hoá của mỗi dân tộc. Tình đoàn kết, gắn bó của 11 dân tộc nơi đây đã hình thành nên một mái nhà chung thắm đẫm tình nghĩa ruột thịt và đa dạng về bản sắc văn hóa.

Theo ông Kpui Tuy, Phó chủ tịch xã giải thích, từ ngày chưa có cầu treo bắt qua con suối Lốp, mỗi khi nước lên, người dân hai bên bờ suối không qua lại được nên phải đứng đợi nước rút. Từ đây, sự manh nha về các mối quan hệ giữa người dân của các dân tộc khác nhau được nảy sinh. Những cuộc chuyện trò về quê hương, về đời sống sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình... nơi vùng đất mới được người dân trao đổi và chia sẻ. Nhiều mối tình đôi lứa đã được nảy sinh ngay bên bờ suối trong những buổi sớm, chiều đứng chờ nước rút. Càng về sau, với quang cảnh thoáng mát bên dòng suối Lốp trong xanh, nơi đây đã trở thành điểm hẹn của các đôi trai gái giữa các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn Ia Piơr. Cái tên Dốc Tình cũng xuất phát từ đó.

Sự cách trở về con suối đã hình thành nên bến đợi. Và từ bến đợi này, tình đoàn kết gắn bó của 11 dân tộc trên địa bàn xã ngày càng được xích lại gần hơn. Đặc biệt, hàng chục cuộc tình lứa đôi giữa các dân tộc đã vượt qua mọi rào cản về phong tục tập quán và văn hóa để nên duyên vợ chồng. Điển hình như chị Rơmah Nhéh, người dân tộc J’rai ở làng Me đã không đi “bắt chồng” theo phong tục của người J’rai mà chấp nhận về nhà chồng làm dâu theo tục lệ của người dân tộc Mường. Chị Kể: “Lúc đầu bà con trong làng đều ngăn cản, vì đi theo chồng là làm trái với phong tục của ông bà. Vì không thể bỏ nhau, chúng em thường hẹn gặp nhau ở Dốc Tình vào mỗi sáng đi làm hoặc những buổi tối sáng trăng. Thấy chúng em thương nhau nên dân làng và bố mẹ đã thông cảm để em theo về nhà chồng”.

Khác với Rơmah Nhéh, Rơmah Nhin, người dân tôc J’rai ở làng Me cũng đã kết duyên vợ chồng với một chàng trai người dân tộc Tày. Vì bất đồng về phong tục tập quán, ngôn ngữ và văn hóa nên đôi trai gái đã bị phản đối kich liệt của bà con họ hàng hai bên. Lúc đó, cứ sau những ngày lên nương, lên rẫy, Dốc Tình là điểm hẹn để cho cô gái J’rai và chàng trai người Tày gặp gỡ kéo dài cuộc tình nhằm thuyết phục gia đình. Mọi ngăn cản cũng không tách rời được tình cảm của đôi trai gái, nên họ hàng hai bên đã chấp thuận cho đôi bạn trẻ tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân. Chàng trai người dân tộc Tày đã không ép cô gái J’rai về làm dâu mà chấp nhận để Rơmah Nhin “bắt chồng” theo phong tục người J’rai.

Năm 2006, một chiếc cầu treo dài gần 100m được xây dựng kết nối 2 bờ suối Lốp. Từ đó, cái tên Dốc Tình đã được thay thế là Cầu Tình. Chẳng phải ngẫu nhiên, người dân xã Ia Piơr gắn cho chiếc cầu treo này với một tên gọi rất thi vị là Cầu Tình. Bởi trước đây, khi chưa có cây cầu bắt qua, khi nước dâng lên cắt đứt tuyến giao thông này, cuộc sống của bà con nhân dân các thôn Đoàn Kết, Yên Bình, Hưng Yên và đặc biệt là bà con làng Phung gần như tách biệt với bên ngoài. Từ khi cây cầu treo được đưa vào sử dụng, tình đoàn kết găn bó của người dân hai bên bờ suối Lốp được xích lại gần nhau. Người dân làng Phung đã được cộng đồng chung tay chia sẻ và dần thoát khỏi tâm lý tự ti, mặc cảm vì bệnh tật. Mặt khác, hàng ngày vào những buổi sáng, tối và đặc biệt là những ngày lễ, thanh niên trong xã thường tập tung về đây để vui chơi và tìm bạn tình. Nhiều cặp tình nhân, nhiều đôi vợ chồng được bắt đầu từ những lần dạo chơi nơi Cầu Tình.

Với người dân xã Ia Piơr, Dôc Tình, Cầu Tình đã gắn với hoạt động xây dựng, tình đoàn kết, tương thân tương ái của các thôn, làng của 11 dân tộc cùng chung sống trên địa bàn. Nhờ có cây Cầu Tình mà người dân làng Phung được cộng đồng nhiều dân tộc trên địa bàn chung tay chia sẻ, giúp họ vượt qua bệnh tật và dần đi vao định. Có thể nói, Dốc Tình và cây Cầu Tình như nơi gắn kết đời sống của hàng trăm hộ dân 2 bờ suối Lốp, đồng thời cũng là điểm hẹn giao lưu văn hóa giữa 11 dân tộc nơi vùng biên cương của tổ quốc.

Tiến Thành

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,475,728


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs