Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 30/08/2010
Thực hiện công tác dân tộc ở tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình có 898.459 người, trong đó 22.467 người là dân tộc thiểu số chiếm 2,1% dân số toàn tỉnh,chủ , đồng bào sống hòa đồng với cộng đồng dân cư ở các huyện, thành phố, thị xã . Dân tộc Mường có 21.748 người, sống vừa tập trung, vừa xen kẽ ở 82 thôn, bản, tại 8 xã thuộc huyện Nho Quan và xã Yên Sơn, thị xã Tam Điệp. Đồng bào sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quán triệt tư tưởng chỉ đạo theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 12-Ctr/TU và triển khai quán triệt sâu rộng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đồng thời ban hành các Nghị quyết về công tác giảm nghèo, đẩy mạnh sản xuất vụ đông, quan tâm đến phát triển dân trí, học tập của con em người dân tộc…
 
 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ giống cây, con; hỗ trợ lãi suất; thủy lợi phí; cho vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào; quan tâm chăm sóc người có công; hỗ trợ xây dựng nhà ở, địa điểm sinh hoạt văn hóa, học tập cho thanh, thiếu niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Nhìn chung, công tác dân tộc của tỉnh trong thời gian qua đã thu được những kết quả đáng phấn khởi. Diện mạo nông thôn miền núi đã có nhiều đổi thay đáng kể. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước phát triển và được cải thiện nhiều mặt.
 
 Những năm qua, nhất là từ khi tái lập tỉnh đến nay thể hiện rõ trong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chương trình 134, 135 của Chính phủ và các dự án đầu tư của tỉnh được triển khai tích cực và mang lại hiệu quả rõ rệt. Với nguồn vốn hơn 70 tỷ đồng, đã xây dựng được cụm công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp Phú Sơn; làng nghề ở xã Văn Phú, hỗ trợ xây dựng công trình cung cấp nước sinh hoạt phân tán cho 3.832 hộ, xây dựng 3 công trình nước sinh hoạt tập trung và nhiều công trình: trường học, trạm y tế, giao thông nông thôn…
 
 Đến nay, 100% số xã có đường ô tô, điện thắp sáng; 100% số xã có trạm phát thanh; 81% số xã được phủ sóng truyền hình; 100% số xã có Trung tâm học tập cộng đồng; 70% số xã có trạm bưu điện và nhà văn hóa thôn bản; trên 67% số xã có công trình thủy lợi, công trình nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Đặc biệt, thực hiện Quyết định 167/TTg của Thủ tướng Chính phủ; Đề án 02, 06 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo đã đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho các đối tượng thụ hưởng là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Từ năm 2003 đến nay, toàn tỉnh đã xóa được 2.088 nhà dột nát, với số tiền gần 30 tỷ đồng, trong đó có 596 nhà của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Chính sách định canh, định cư được hoàn thành từ năm 2002; chương trình phân lũ, chậm lũ, trồng rừng được triển khai hiệu quả. Trong 2 năm gần đây, tỉnh đã đầu tư 6,7 tỷ đồng để trồng mới 645 ha rừng, trồng 900 ha cây phân tán, khoanh nuôi tái sinh hơn 21.000 ha rừng…
 
 Công tác giáo dục và đào tạo được quan tâm ưu tiên đầu tư, đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay 100% các xã có trường tiểu học, Trung học cơ sở với 70% số trường học, phòng học được xây dựng cao tầng, kiên cố. Chính sách thu hút giáo viên, trợ cấp tiền đi học, hỗ trợ học phí, cấp sách vở cho học sinh những xã đặc biệt khó khăn được thực hiện tốt. Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh năm học 2008-2009 đã tăng 50% chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10. Đến nay, phổ cập Trung học cơ sở đã hoàn thành ở 30/60 xã miền núi, đạt tỷ lệ gần 100% trẻ em đúng độ tuổi vào lớp 1. Mạng lưới y tế cộng đồng vùng dân tộc thiểu số được mở rộng đến tận thôn, bản. Toàn vùng có 5 cơ sở y tế tuyến huyện, 100% số xã có trạm y tế với 71% trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia, 49,7% trạm y tế có bác sỹ làm việc tại trạm.
 
 Về xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Công tác xây dựng Đảng được quan tâm chỉ đạo trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chú trọng công tác phát triển Đảng, đến nay toàn tỉnh có 612 đảng viên là người dân tộc thiểu số, tăng 72 đảng viên so với năm 2005. Bên cạnh đó, công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số được tỉnh chú trọng và có chuyển biến tích cực. Đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ thường xuyên được quan tâm. Từ năm 2005 đến nay, có 64 người được bồi dưỡng về lý luận chính trị, 19 người được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, cử tuyển 18 giáo viên, 60 học sinh được lựa chọn đi học tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học. Vai trò của 112 già làng, trưởng thôn, bản được phát huy trong cộng đồng dân cư, thực sự là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động đồng bào hăng hái tham gia lao động sản xuất, kinh doanh, làm giàu chính đáng.
 
 Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đồng bào các dân tộc thiểu số đã đoàn kết, nỗ lực, vươn lên thoát nghèo, đổi mới cách nghĩ, cách làm, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của Nhà nước qua các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới.
 
 Trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào các dân tộc thiểu số đã tiếp cận và mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các mô hình cho hiệu quả kinh tế cao như: nuôi hươu, nhím ở Cúc Phương, nuôi bò sinh sản, ong. Đã có 80 trang trại của đồng bào các dân tộc thiểu số cho thu nhập đạt khoảng 50 triệu đồng/năm.
 
 Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực hưởng ứng chủ trương của tỉnh về phát triển các khu, cụm công nghiệp, đến nay tại địa bàn các xã có đồng bào dân tộc thiểu số đã hình thành nhiều doanh nghiệp với nhiều loại hình ngành nghề, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ 28% (năm 2003) xuống còn 23% (năm 2008).
 
 Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội đã có sức lan tỏa rộng khắp các thôn, bản. Đến nay, 100% các thôn, bản xây dựng được quy ước, hương ước.
 
 Tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) và Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 12/5/2003 của Tỉnh ủy, nhằm tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, thực hiện nhất quán quan điểm xây dựng cộng đồng dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ.
 
 Phấn đấu thực hiện mục tiêu: Đoàn kết các dân tộc thiểu số để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh trong phát triển kinh tế-xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 13%, xóa được thôn, bản đặc biệt khó khăn, giải quyết tốt vấn đề đất ở, đất sản xuất, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây tổn hại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo sự đồng thuận và niềm tin đối với đồng bào, góp phần xây dựng hệ thống chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng quê hương Ninh Bình ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Bình Minh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,441,165


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs