Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Già làng - Thầy cúng: với việc xây dựng đời sống văn hoá


Bấy lâu nay trong lời nói cũng như trong văn bản chúng ta thường sử thuật ngữ Già làng, Trưởng bản (có dấu phảy), hoặc thuật ngữ Già làng-Trưởng bản (có gạch nối). Khi dùng thuật ngữ Già làng, Trưởng bản (có dấu phẩy) thì được hiểu là thuật ngữ này chỉ hai chức vị khác nhau: chức vị thứ nhất là Già làng, và chức vị thứ hai là Trưởng bản. Hai chức vị này thuộc về hai người khác nhau: một người giữ chức vị Già làng, và người kia giữ chức vị Trưởng bản. Chức vị Già làng do người dân trong cộng đồng suy tôn, vì vậy nó thuộc hệ thống thiết chế xã hội dân gian truyền thống, và đại diện cho người dân ở cơ sở; còn chức vị Trưởng bản là do người dân trong bản bầu ra dưới sự chỉ đạo của bộ máy chính quyền Nhà nước ở cơ sở. Do đó người Trưởng bản thuộc hệ thống quản lý của Nhà nước.

Còn khi ta dùng thuật ngữ Già làng-Trưởng bản (có gạch nối) thì được hiểu đây là thuật ngữ chỉ một chức vị do một người nắm giữ. Già làng là chức vị truyền thống thuộc hệ thống thiết chế xã hội dân gian, còn Trưởng bản là cách gọi mới (sau cách mạng tháng 8/1945) của chức vị Già làng.
 
 Nước ta là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có tiếng nói khác nhau, do đó tên gọi nơi cư trú cũng khác nhau. Dân tộc Kinh gọi nơi cư trú là làng; một số dân tộc sinh sống ở Tây Nguyên gọi nơi cư trú là buôn, hay plei; dân tộc Khmer ở Nam Bộ gọi nơi cư trú là phum, sóc; các dân tộc Tày, Nùng, lại gọi nơi cư trú là bản… Do tên gọi nơi cư trú khác nhau, cho nên tên gọi những chức vị đứng đầu nơi cư trú cũng có nét riêng: với dân tộc Khmer bộ máy quản lý cổ truyền của phum, sóc được gọi là me phum, me sóc; với một số dân tộc ở Tây Nguyên lại có những tên gọi khác: người Gia Rai gọi người đứng đầu buôn là pô buôn có nghĩa là chủ làng; người Ê-đê gọi người đứng đầu buôn là pô lăn nghĩa là chủ đất và pô pin ea nghĩa là chủ bến nước; còn với các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc người đứng đầu bản được gọi là tàu bản, nghĩa là đầu bản. Do người đầu bản thường là người có tuổi nên cũng có thể gọi là già bản.
 
 Như vậy, thuật ngữ Già làng-Trưởng bản là thuật ngữ mang tính khái quát cao, mang tính đại diện chung . Còn với từng địa phương cụ thể cần hiểu Già làng-Trưởng bản bằng những tên, những chức vị cụ thể của địa phương mình. Như vậy sẽ thuận tiện hơn cho việc xác định và phát huy vai trò người đứng đầu của một thiên chế cư dân trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của từng địa phương.
 
 Thuật ngữ Già bản-Thày cúng được sử dụng ở đây là để chỉ chức vị dân gian cụ thể của thiết chế xã hội cư dân ở làng bản các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc. Người nắm chức vị này là người có hiểu biết về phong tục tập quán dân tộc, thông thạo các nghi lễ liên quan đến cuộc sống tâm linh của cộng đồng, có uy tín trong cộng đồng, được cộng đồng suy tôn, và mỗi khi có những vấn đề mới nẩy sinh trong cuộc sống mà người dân trong cộng đồng cảm thấy chưa quen ứng xử thì đồng bào sẵn sàng tham khảo ý kiến của người giữ chức vị này.
 
 Già làng và Thày cúng là người đại diện cho hai lực lượng xã hội khác nhau. Già làng là người hiểu biết về phong tục tập quán đời thường của dân tộc, nói cách khác đây là người nắm thế lực; còn Thày cúng là người hiểu biết về nghi lễ tâm linh của dân tộc, nói cách khác đây là người nắm thần lực. Hai lực lượng này hàng ngày, hàng giờ đều tác động đến cuộc sống của người dân. ở trong một bản cụ thể hai lực lượng này có thể do một người nắm giữ, nhưng cũng có thể do hai người nắm giữ.
 Như chúng ta biết, trong dân gian thì bên cạnh cuộc sống đời thường còn có cuộc sống tâm linh. Trước đây từ phía công tác văn hóa chúng ta quan tâm nhiều đến cuộc sống đời thường, còn đời sống tâm linh thì được quan tâm ít hơn. Song đối với người dân thì hầu như hai mặt này của cuộc sống được đồng bào quan tâm song song, hài hoà. Khi làm đám cưới đồng bào không chỉ lo chuẩn bị vật chất cho ăn uống mà còn xem số mệnh; khi làm nhà mới không chỉ lo chi phí mua nguyên vật liệu, mà còn tìm thầy xem ngày động thổ, ngày cất nóc, ngày đổ trần, ngày vào nhà mới...
 
 Cuộc sống tâm linh có vai trò quan trọng trong cuộc sống đời thường, nó là nền tảng. tinh thần của người dân trong bản, là mặt đối lập của nền tảng vật chất, tạo nên sự cân bằng cho cuộc sống đời thường.
 
 Trong bài viết này, chúng tôi muốn góp thêm một cái nhìn, một cách hiểu về người đứng đầu bản ở vùng dân tộc Tày-Nùng; người đứng đầu bản không phải chỉ là người hiểu biết phong tục, tập quán làm ăn đời thường mà còn là người am hiểu các nghi lễ liên quan đến cuộc sống tâm linh. Người đó chính là Già bản-Thầy cúng.
 
 Già bản-Thầy cúng là kho tri thức về văn hoá dân tộc
 
 Khái niệm về văn hoá dân tộc có thể có nhiều cách khái quát, song trong bài viết này, chúng tôi muốn khái quát theo một cách nhìn: văn hoá dân tộc bao gồm văn hoá đời thường và văn hoá tâm linh chính là Già bản-Thầy cúng. Như vậy, Già bản-Thầy cúng chính là kho tri thức, là người giữ vai trò bảo lưu và truyền bá văn hoá dân tộc trong cộng đồng. Việc bảo lưu và truyền bá văn hoá dân tộc được thể hiện ở chỗ từ khi có công việc, nhất là những công việc liên quan đến cưới xin, ma chay, làm nhà mới… người dân trong cộng đồng luôn tìm đến Già bản-Thầy cúng để xin ý kiến tư vấn, thậm chí cho ý kiến quyết định.
 
 Về văn hóa đời thường của người dân đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trình bày khá đầy đủ. ở đây chúng tôi chỉ muốn đi sâu hơn, khẳng định thêm vai trò của Già bản-Thầy cúng trong đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào Tày, Nùng.
 
 Với các dân tộc Tày, Nùng mỗi khi có việc quan trọng trong đời sống, họ luôn suy nghĩ, tính toán chuẩn bị cả hai mặt: mặt vật chất và mặt tinh thần (mặt tâm linh). Đồng bào luôn tâm niệm rằng, cuộc sống con người muốn làm được ăn và sống được yên thì cần được tổ tiên và thần linh phù hộ. Trong dân gian các dân tộc Tày, Nùng có câu:
 
 Đảy kin mì pảu pú,
 Đảy dú mì thó tì.
 Dịch nghĩa là: Được ăn (nhờ) có tổ tiên,
 Được ở (nhờ) có thổ địa.
 hoặc câu khác có nghĩa tương tự:
 Đảy kin ngòi mò mả
 Thong thả ngòi tì lườn.
 Dịch nghĩa là: Được ăn trông (vào) mồ mả,
 Được yên trông (vào) đất nhà.
 
 Vì vậy khi một gia đình chuẩn bị đám cưới cho con trai thì nhất định phải nuôi lợn, nuôi gà, phải tính toán đến gạo, rượu, tiền cho bên nhà gái (thách cưới), và làm cỗ cưới bên mình (bên nhà trai). Nhưng không phải chỉ có vậy mà đồng bào còn rất quan tâm đến số mệnh của đôi trai gái có hợp nhau không ?, xem ngày lành, tháng tốt để tổ chức lễ đón dâu về lễ gia tiên. Việc liên quan đến tâm linh này chỉ có Thầy cúng mới giúp thực hiện được. Mặc dù có đây đủ điều kiện vật chất (rượu, gạo, tiền), nhưng điều kiện tinh thần (tâm linh) không đáp ứng được như: số không hợp nhau, chưa chọn được ngày tốt, thì cũng không thể tổ chức đám cưới.
 
 Khi có nhu cầu làm ngôi nhà mới, việc nhộn nhịp chuẩn bị nguyên vật liệu và các chi phí cần thiết khác thì mọi người đều biết, nhưng đằng sau đó còn có công việc mà nhìn bề ngoài thì có vẻ âm thầm lặng lẽ, nhưng bên trong lại không kém phần sôi động. Đó là việc tìm Thầy cúng nhờ xem tuổi làm nhà, xem ngày khởi công làm lễ động thổ... Có trường hợp nhu cầu làm nhà rất gấp, nhưng không được tuổi làm nhà… thì cũng đành chờ đợi năm sau.
 
 Trong đám ma, ngoài những chi phí vật chất nhìn thấy có thể tính toán được, còn việc khác nhất thiết không thể thiếu thuộc về tâm linh, đó là mời thầy cúng làm lễ đưa xác đi chôn cất và tiễn hồn về với tổ tiên. Công việc này chỉ có thầy cúng mới làm được. ở đám ma điều đáng chú ý là lời cúng. Lời cúng trong đám ma có giá trị nhân văn sâu sắc, có giá trị giáo dục đạo đức rất cụ thể, rất thiết thực.
 
 Lễ hội dân gian thường có hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần tâm linh, do các thầy cúng thực hiện; còn phần hội là phần vui chung của cộng đồng, do cộng đồng tổ chức, người dân cộng đồng vừa là diễn viên, vừa là khán giả.
 
 Qua một số thí dụ nêu trên, chúng ta thấy, thầy cúng là nhân vật có vai trò quan trọng trong đời sống của người Tày, Nùng. Thầy cúng là người duy nhất tác động đến đời sống tâm linh của đồng bào, giúp đồng bào giải tỏa những băn khoăn, vướng mắc về tâm linh, về tinh thần trong đời sống thường ngày.
 
 Phát huy vai trò của Già bản-Thầy cúng trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
 
 Già bản-Thầy cúng là người bảo lưu nhiều vốn văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Tày-Nùng, cả văn hoá đời thường và văn hoá tâm linh. Vì vậy khi xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở vùng đồng bào Tày-Nùng nên nghiên cứu phát huy vai trò của Già bản-Thầy cúng. ở đây chúng ta khai thác và phát huy vốn văn hoá truyền thống của Già bản-Thầy cúng ở hai khía cạnh và nhằm hai mục đích: thứ nhất là phát huy những hiểu biết về văn hoá dân tộc nhằm vào mục đích xác định những giá trì văn hóa mang bản sắc văn hoá dân tộc cần bảo tồn; thứ hai là phát huy uy tín và ảnh hưởng của Già làng-Thầy cúng trong cộng đồng nhằm vào mục đích tuyên truyền, vận động cộng đồng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
 
 Văn hoá là thành quả sáng tạo của cộng đồng, là thói quen của cộng đồng trong đời sống thường ngày cũng như trong tâm linh, song không phải tất cả mọi thành viên trong cộng đồng đều quan tâm và đều ý thức được những nét đẹp, nét hay của văn hoá truyền thống của dân tộc mình. Chỉ có một số người, trong đó có Già bản-Thầy cúng với chức vị và trách nhiệm của mình với cộng đồng mới quan tâm và lưu giữ nhiều vốn quý văn hoá dân tộc.
 
 Để xây dựng văn hoá làng, Nhà nước đưa ra định hướng xác định những tiêu chí cơ bản gồm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất là kế thừa văn hoá truyền thống và bộ phận thứ hai là đưa văn hoá mới vào đời sống của đồng bào.
 
 Việc kế thừa văn hoá truyền thống của dân tộc nên dựa vào các Già bản-Thầy cúng , nên khai thác ở những người này ở hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là ý tưởng, ý nghĩa của nét văn hoá truyền thống; khía cạnh thứ hai là đặc điểm riêng của văn hoá truyền thống dân tộc mìmh khác với dân tộc khác.
 
 Mỗi nét văn hoá đều xuất phát từ một ý tưởng. Thí dụ, các dân tộc thờ thần cúng rừng là xuất phát từ ý tưởng mong muốn có được rừng cây luôn xanh tươi, cây giữ được nhiều nước trên núi cao, từ đó nước các dòng sông, dòng suối không bao giờ cạn, nông dân đủ nước sản xuất, đủ nước sinh hoạt. Hàng năm Tết đến, đồng bào Tày-Nùng trồng cây nêu ở sân nhà với ý tưởng là đuổi quỷ đến tranh đất với người; ngày 14/7 hàng năm, người Nùng làm bún, thịt vịt để bày cúng những linh hồn của người quá cố. Những linh hồn này khi còn là người sống làm nhiều điều tội lỗi, cho nên khi chết không được về với tổ tiên mà bị Diêm Vương phạt đày xuống âm phủ. Ngày 14/7 hàng năm Diêm Vương xá tội cho những linh hồn đó, cho chúng được tự do đi tìm ăn. Ngoài ra cũng trong dịp này, đồng bào còn cúng cả những vong hồn không nơi nương tựa, thường xuyên chịu đói khát… Già bản-Thầy cúng là người nắm được nhiều nhất những ý tưởng mà văn hoá dân tộc muốn đạt tới. Vì vậy người làm công tác văn hoá cần tranh thủ những hiểu biết của thầy cúng để nâng cao nhận thức của mình về văn hoá dân tộc. Những nhận thức mới sẽ góp phần nâng cao năng lực của cán bộ công tác văn hoá trong việc đánh giá các giá trị của văn hoá dân tộc.
 
 Văn hoá mỗi dân tộc đều có đặc điểm riêng. Những đặc điểm riêng này thường biểu hiện ở cách thức tổ chức và kỹ thuật thể hiện những ý tưởng của dân tộc.
 
 Về cách thức tổ chức, một hiện tượng văn hoá có thể tổ chức theo quy mô gia đình hay quy mô cộng đồng bản. Người Tày, Nùng tổ chức lễ cầu mùa (lễ hội lùng tùng) theo quy mô bản, nhưng người Dao lại tổ chức lễ hội cầu mùa (lễ hội dùn pùn) theo quy mô gia đình. Về thời gian tổ chức lẽ hội cũng rất khác nhau. Nhiều dân tộc tổ chức lễ hội cúng rừng vào tháng giêng (mùa xuân), nhưng dân tộc Hà Nhì lại tổ chức lễ hội cúng rừng vào tháng sáu (mùa hè). Dân tộc Kinh hay tổ chức rước các vị thần từ đền hoặc đình làng ra nơi diễn ra lễ hội; một số dân tộc khác lại tổ chức lễ hội tại nơi đặt đền, đình.
 
 Kỹ thuật thể hiện những nét văn hoá dân tộc cũng rất khác nhau. Cũng mặc quần áo, nhưng có dân tộc thích màu chàm (các dân tộc Tày, Nùng), nhưng có dân tộc thích màu nâu (dân tộc Kinh); cùng là tưởng nhớ tổ tiên có dân tộc thắp hương (Việt Nam, Trung quốc), nhưng có dân tộc lại thắp nến (Châu âu); cùng là động tác tỏ tình thân mật chào hỏi nhau, có dân tộc cách nhau một khoảng, chắp hai tay trước mặt cúi đầu chào, nhưng có dân tộc lại tiến lại gần nhau nắm bắt tay nhau, thậm chí ôm hôn nhau thắm thiết; cùng là ăn nhưng có dân tộc ăn bằng đũa, có dân tộc ăn bằng thìa dĩa, lại có dân tộc ăn bằng tay bốc; cũng là thể hiện sự vui nhộn của cộng đồng, có dân tộc thích tổ chức múa sư tử, có dân tộc thích tổ chức nhẩy sạp, lại có dân tộc thích tổ chức múa soang; cũng là nghe âm nhạc, có dân tộc thích nghe tiếng đàn bầu, có dân tộc thích nghe tiếng đàn tính, có dân tộc thích nghe tiếng cồng, chiêng.
 
 Từ những dẫn giải nêu trên chúng ta thấy những gì liên quan đến ý tưởng sâu xa nhất, đến điểm đặc sắc nhất của văn hoá ở các dân tộc Tày, Nùng thường tập trung ở người Già bản-Thầy cúng. Vì vậy chúng tôi cho rằng cần có cơ chế, giải pháp hữu hiệu phát huy vai trò của thầy cúng trong việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở vùng các dân tộc Tày, Nùng.

GS. Hoàng Nam
Hoàng Thị Hà

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,838,013


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs