Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/08/2010
Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá trong lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Theo thống kê của Cục văn hóa thông tin cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), tính đến năm 2008, tổng số lễ hội ở Việt Nam là 7.966, có thể phân chia thành các loại như sau:

- Lễ hội dân gian: 7.039 (88,36%).
 - Lễ hội tôn giáo: 544 (6,82%).
 - Lễ hội lịch sử cách mạng: 332 (4,16%).
 - Lễ hội du nhập từ nước ngoài: 10 (0,12%).
 - Lễ hội khác: 40 (0,5%).
 
 Như vậy, nếu một năm có 365 ngày thì trung bình 1 ngày trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 22 lễ hội. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở Việt Nam nói riêng. Có thể khẳng định rằng:
 
 - Lễ hội truyền thống là một bộ phận hữu cơ của văn hóa tinh thần mang đặc trưng tộc người rõ nét. Là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn hóa Việt Nam, lễ hội được hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể liên quan đến môi trường cảnh quan, các điều kiện kinh tế - xã hội, con người, quá trình hình thành và phát triển tộc người và giao lưu văn hóa.
 
 - Lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta là một phức hợp hội tụ các loại hình văn hóa dân gian, trong đó hàm chứa hệ giá trị được xây đắp qua nhiều thế hệ. Khi xem xét các yếu tố này không thể không đặt nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể của tộc người trước yêu cầu phát triển hiện nay.
 
 - Lễ hội truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là phần lễ, nên khi nhìn nhận, đánh giá cần có thái độ khách quan, khoa học. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Lễ hội truyền thống gắn với nhu cầu tâm linh của đồng bào các dân tộc, cần được quan tâm bảo tồn trước mắt cũng như lâu dài nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống con người.
 
 - Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua trường kỳ lịch sử tạo nên những giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Có 2 vấn đề cốt lõi trong sự phát triển văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng và mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Khi xem xét vấn đề bảo tồn và phát triển các lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số cần quán triệt sâu sắc vấn đề này theo hướng một mặt bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc (tộc người và nhóm địa phương tộc người) nhưng đồng thời phải khai thác các giá trị hướng tới sự gắn kết và phát triển ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc, đảm bảo yêu cầu phát triển tất yếu của từng dân tộc nói riêng và quốc gia nói chung.
 
 - Do các điều kiện lịch sử cụ thể, trong một số thập kỷ qua, nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số đã phai nhạt hoặc vắng bóng trong đời sống. Việc phục hồi các lễ hội này cần phải được nghiên cứu công phu, nghiêm túc trên cơ sở khoa học, có xem xét đúng mức đến nhu cầu của cư dân, tránh sự phục hồi mang tính tự phát, tràn lan gây nên những tác hại tiêu cực.
 
 Để tiến hành bảo tồn và phát triển lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số cần chú ý đến mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị lịch sử văn hóa, loại bỏ các yếu tố lỗi thời không còn phù hợp theo quan điểm “gạn đục, khơi trong”, bổ sung các yếu tố mới nhằm làm phong phú thêm lễ hội, một mặt đáp ứng nhu cầu của cư dân, mặt khác góp phần đưa văn hóa trở thành động lực trong sự phát triển kinh tế-xã hội.
 
 Thực tế phát triển của nhân loại cho thấy: lễ hội là sản phẩm của tộc người, gắn liền với nhu cầu của bản thân cư dân, nhưng lễ hội không phải là bất biến mà luôn luôn vận động, phát triển và thậm chí bị tàn lụi trong những điều kiện lịch sử của quá trình tộc người, chịu sự tác động của các yếu tố chính trị - xã hội của từng dân tộc, từng quốc gia.
 
 Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó có nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, để bảo tồn và phát huy tốt các lễ hội, các giá trị văn hoá mang bản sắc dân tộc trong lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta trong những năm gần đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
 
 Thứ nhất, nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về các lễ hội
 
 Để việc khôi phục, bảo tồn lễ hội truyền thống các tộc người ở nước ta nói chung, vấn đề đầu tiên là phải nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về các lễ hội, số lượng, nội dung, hình thức hoạt động của lễ hội truyền thống trên cơ sở đó lựa chọn những lễ hội tiêu biểu theo vùng, tộc người... để lựa chọn thí điểm tổ chức. Từ năm 1999 đến năm 2004, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) đã phối hợp với các địa phương lựa chọn 8 lễ hội của 8 dân tộc thiểu số để tiến hành điều tra, khảo sát, xây dựng thành kịch bản và hỗ trợ kinh phí để nhân dân tổ chức lễ hội. Đó là:
 
 + Lễ hội Gầu Tào của người Mông (xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình).
 + Lễ hội Hoa Ban của người Thái (xã Chiềng Khoa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La).
 + Lễ hội Tâm Nghết của người Mnông (xã ĐakTit, huyện Đăc Rlấp, tỉnh Đắc Nông).
 + Lễ hội Cúng máng nước của người Xơ Đăng (huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum).
 + Lễ hội BuBsah N’Găp bon của người Mnông - Preh (xã Nam Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắc Nông).
 + Lễ hội Cầu mưa của người Hrê (xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi).
 + Lễ hội Lồng tồng của người Tày (xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn).
 + Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay (xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
 
 Năm 2005, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tiếp tục chỉ đạo để điều tra, khảo sát, xây dựng kịch bản và hỗ trợ bảo tồn 8 lễ hội tiêu biểu của 8 dân tộc: Nùng (Lạng Sơn), Phù Lá (Yên Bái), Mông (Lai Châu), Mường (Phú Thọ), Dao (Quảng Ninh), Chăm (Phú Yên), Chăm (Bình Thuận), Chơ ro (Đồng Nai).
 
 Lễ hội với tư cách là một thành tố văn hóa - một hiện tượng văn hóa dân gian, đáp ứng nhu cầu, tình cảm không thể thiếu được trong đời sống của nhân dân. Bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học, trước hết phải bóc các lớp vỏ thời gian để nhận diện cội nguồn của các lễ hội; sự “chồng xếp” và “tích hợp” các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác qua từng giai đoạn lịch sử. ở nước ta, có một thực tế là, các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khi du nhập bao giờ cũng có sự kết hợp với các yếu tố bản địa, làm nên sắc thái riêng của loại hình này. Thông qua đó, tái nhận thức lại toàn bộ tiến trình lễ hội một cách khách quan, trung thực, tránh chủ quan, áp đặt theo cảm nhận của nhà nghiên cứu. Từ đó, đánh giá chân thực các giá trị của lễ hội (kể cả các lễ hội đang tồn tại và các lễ hội đã vắng bóng) để trên cơ sở đó lựa chọn phương thức bảo tồn phù hợp.
 
 Lễ hội bao giờ cũng là sinh hoạt của quần chúng nhân dân và do đó cần phải đánh giá đúng nhu cầu và nhận thức của cư dân về lễ hội. Việc bảo tồn, phục hồi hay phát triển trước hết xuất phát từ yêu cầu này. Chính nhân dân sáng tạo ra lễ hội cũng đồng thời là người kế tục, bảo tồn và phát huy lễ hội trong đời sống xã hội hiện đại và trong tương lai.
 
 Thứ hai, phát triển ý thức cộng đồng, dân tộc, quốc gia thông qua lễ hội và qua hoạt động khôi phục các lễ hội truyền thống, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, thống nhất trong đa dạng, như là cốt lõi khi giải quyết vấn đề văn hóa.
 
 Lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta là một hệ thống khá phong phú và đa dạng. Hệ thống lễ hội gắn liền với chu kỳ vòng đời theo quan niệm của cộng đồng, gắn liền với các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo chu kỳ sản xuất thông qua các lễ tết. Đối với lễ hội và hội, yếu tố hội bao giờ cũng nổi trội. Bên cạnh các lễ hội gắn liền với các di tích - nơi gìn giữ các giá trị về các anh hùng văn hóa lịch sử, trở thành các không gian văn hóa thiêng liêng, còn có các lễ hội gắn liền với các hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian và các lễ hội thể hiện tinh thần thượng võ trong việc chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước, thể hiện khí phách dân tộc qua trường kỳ lịch sử.
 
 Việc bảo tồn, phát triển lễ hội cổ truyền của các tộc người thiểu số ở nước ta cần phải đặc biệt chú ý đến việc củng cố và phát triển ý thức cộng đồng, từ cộng đồng tộc người đến cộng đồng quốc gia. Vì chính ý thức cộng đồng quốc gia đã trở thành động lực phát triển ở nước ta từ truyền thống đến hiện đại, đảm bảo cho sự phát triển của quốc gia - dân tộc.
 
 Lễ hội có thể coi là một “tổ hợp” hàm chứa trong đó nhiều thành tố văn hóa của các tộc người, làm nên tính đặc sắc và độc đáo của lễ hội.
 
 + Trang phục lễ hội: Không ai phủ nhận giá trị lịch sử, văn hóa của trang phục. Chính trang phục truyền thống là một trong những yếu tố quan trọng, là dấu hiệu để phân biệt tộc người, đặc biệt là nữ phục. Chính vì vậy, việc sử dụng trang phục truyền thống trong lễ hội là yêu cầu khách quan đối với việc bảo tồn lễ hội. Trong những thập kỷ gần đây, việc “Kinh hóa” trang phục diễn ra khá mạnh trong đời sống của nhiều tộc người thiểu số do sự tác động của hàng hóa công nghiệp. Muốn sử dụng trang phục trong lễ hội, trước hết phải khôi phục nghề dệt truyền thống (dệt vải, thổ cẩm...) trên cơ sở kết hợp hài hòa các nguyên liệu mới (sợi, chỉ màu, thuốc nhuộm...), các nguyên liệu để chế tạo đồ trang sức. Sự thiếu vắng trang phục trong lễ hội sẽ làm phai nhạt bản sắc văn hóa và làm nghèo đi sắc thái của lễ hội.
 
 + ẩm thực trong lễ hội: Là một trong những thành tố rất quan trọng của văn hóa ẩm thực, phản ánh sự sáng tạo rất to lớn của cư dân trong quá trình phát triển và sự giao lưu văn hóa. Đối với các tộc người thiểu số, cần khôi phục, bảo tồn các đặc sản ẩm thực, trong đó có những đặc sản chỉ phổ biến trong lễ hội. Sự kết hợp các yếu tố giữa lễ và hội đã giúp cho cư dân tạo nên những sản phẩm đạt chất lượng cao, mang tính truyền thống đậm nét. Vì thế, thông qua lễ hội cũng góp phần quan trọng bảo tồn các giá trị ẩm thực mang đặc trưng tộc người.
 
 + Bảo tồn và gìn giữ các di tích lịch sử, văn hóa: Trong cộng đồng các tộc người thiểu số ở nước ta, một số lễ hội gắn liền với các di tích lịch sử, văn hóa. Do các điều kiện lịch sử, nhiều di tích lịch sử bị xuống cấp hoặc bị huỷ hoại trong chiến tranh. Có một thực tế là, ở nhiều nơi, khi lễ hội vắng bóng thì đồng thời các di tích cũng bị hoang phế và ngược lại. Để có thể khôi phục lễ hội, vấn đề đặt ra là, phải khôi phục không gian thiêng của cộng đồng. Tất nhiên, không phải mọi phế tích đều khôi phục, mà khôi phục có chọn lọc trên cơ sở khoa học, xem xét đầy đủ giá trị khoa học, nghệ thuật của di tích và nhu cầu của cư dân, đảm bảo tính khách quan, chân thực, nguyên trạng.
 
 + Giữ gìn bản sắc dân tộc thông qua việc bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân gian. Đây là một trong những biểu hiện độc đáo trong lễ hội các tộc người thiểu số ở nước ta. Trong lễ hội, ngoài các hoạt động mang tính nghi thức, ngoài sự cộng cảm giữa con người với con người, con người với tự nhiên, còn có các hoạt động văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí. Có thể nói, lễ hội là dịp thuận lợi nhất để con người thể hiện các loại hình nghệ thuật dân gian (cá nhân và cộng đồng) ở trình độ cao nhất, từ các loại hình âm nhạc đến vũ đạo, từ các hình thức diễn xướng, hội họa đến các trò chơi dân gian. Sự bảo tồn lễ hội cũng đồng thời là bảo tồn kho tàng văn nghệ dân gian, một sáng tạo văn hóa của các tộc người.
 
 Thứ ba, kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa trong lễ hội
 
 Trong mấy chục năm qua, do sự tác động của chiến tranh và những khó khăn trong thời kỳ bao cấp, nhiều di tích và lễ hội bị mai một trong đời sống. Chính vì vậy, việc khôi phục di tích và lễ hội hiện nay đã trở thành nhu cầu tất yếu trong đời sống cư dân. Mặc dù vậy, việc phục hồi lễ hội ồ ạt, tự phát đã đưa đến những hậu quả đáng tiếc, nhiều sắc thái dân tộc trong lễ hội chưa được khai thác. Đấy là chưa nói trong lễ hội đã xuất hiện hiện tượng pha tạp, không đúng với diện mạo vốn có của nó, làm mất đi sắc thái địa phương và tộc người. Chính vì vậy, để tiến hành khôi phục lễ hội, trước hết cần nghiên cứu kỹ quy trình lễ hội, sự tích và nghi thức với sự tham gia của người dân. Các nghi thức trong lễ hội cần đảm bảo tính lịch sử, có tính kế thừa và chọn lọc các giá trị phù hợp với điều kiện hiện nay, loại bỏ các yếu tố không phù hợp.
 
 Thứ tư, khôi phục và bảo tồn lễ hội truyền thống, dự báo xu hướng phát triển của nó và đổi mới lễ hội theo hướng hiện đại hoá.
 
 Lễ hội có lịch sử phát triển lâu đời và có sức sống mãnh liệt, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, nhưng lễ hội không phải là bất biến mà nó luôn luôn vận động, chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị-xã hội-văn hóa.
 
 Lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta mặc dù khá đa dạng nhưng cốt lõi của nó là sản phẩm của cư dân nông nghiệp, mang tính cầu mùa rõ nét. Chừng nào mà hoạt động sản xuất nông nghiệp còn là phương thức canh tác chủ yếu trong đời sống con người, thì chừng đó, các lễ hội này còn tràn đầy sức sống mãnh liệt trong đời sống văn hoá dân tộc.
 
 Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cơ cấu kinh tế vùng tộc người thiểu số sẽ có những biến đổi mạnh mẽ khi tỉ trọng nông nghiệp có sự thay đổi đáng kể. Trong điều kiện đó, các hoạt động nghi lễ liên quan đến nông nghiệp không thể không chịu sự tác động và biến đổi. Tất nhiên hiện thực đó còn đang là vấn đề của tương lai. Nhưng rõ ràng việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ làm cho nhiều yếu tố văn hoá truyền thống mai một đi nhanh chóng, và do đó việc bảo tồn, phát huy lễ hội các tộc người là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng nhu cầu của cư dân và đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
 
 Đổi mới là xu hướng vận động của mọi nền văn hoá. Vấn đề đặt ra là đổi mới theo hướng nào? Đối với lễ hội truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta hiện nay cần phải đổi mới theo hướng hiện đại hoá, phù hợp với hướng phát triển chung của đất nước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự đổi mới ở đây là đổi mới trên nền tảng truyền thống chứ không phải vứt bỏ cái cũ thay bằng cái mới. Truyền thống văn hoá, bản sắc văn hoá là cơ sở của sự đổi mới và phát triển.
 
 Thứ năm, trong khi duy trì, phát huy các lễ hội truyền thống, căn cứ vào các điều kiện cụ thể, cần hướng tới việc xây dựng các lễ hội mới.
 
 Trong những năm qua, vùng các tộc người thiểu số nước ta đã có nhiều tiến bộ về phát triển kinh tế-xã hội; đời sống của đồng bào các dân tộc đã được nâng cao một bước đáng kể. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên và do điểm xuất phát trước khi bước vào thời kỳ đổi mới còn thấp nên kinh tế - xã hội của nhiều địa phương, đời sống của các tộc người còn nhiều khó khăn. Để khôi phục lễ hội, bên cạnh sự đầu tư kinh phí của Nhà nước còn có kinh phí của địa phương (nhưng còn quá ít), kinh phí chủ yếu do sự đóng góp của dân. Ví dụ, chương trình bảo tồn văn hoá phi vật thể ở tỉnh Lai Châu (cũ) cho biết, trong 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, mỗi năm đầu tư từ 30 đến 50 triệu đồng cho bảo tồn văn hoá các dân tộc Mông, Thái, Cống, Si La, La Hủ… là lượng kinh phí còn quá ít ỏi. Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới chủ trương khôi phục Hạn Khuống ở Lai Châu những năm trước đây không thành công. Một ví dụ khác ở tỉnh Sơn La: kịch bản tổ chức Lễ hội xên mường và ở huyện Sông Mã, Lễ hội cầu mưa của người Thái đen bản Na Ngà, xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu rất rõ mục đích, yêu cầu và khá quy mô nhưng phần đóng góp của dân và địa phương sở tại có phần vượt quá khả năng kinh tế cho phép.
 
 Hiện nay, ở nước ta đã có một số lễ hội mới ra đời như lễ hội Yên Thế (tôn vinh vị anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám), lễ hội Xương Giang (tôn vinh chiến thắng chống ngoại xâm), lễ hội Bản Phủ tôn vinh anh hùng Hoàng Công Chất và ca ngợi tinh thần đoàn kết giữa người Kinh với người Thái nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nói chung… Có thể xây dựng một số lễ hội mới mà không dừng lại ở các nghi thức kỷ niệm như: lễ hội Pắc Bó (tôn vinh vị anh hùng dân tộc - danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh); lễ hội Tân Trào, lễ hội Bắc Sơn (trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và cách mạng tháng Tám); lễ hội Điện Biên ca ngợi thắng lợi vĩ đại trong đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta...
 
 Trong khi tiến hành các lễ hội mới cần kết hợp hài hoà mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Ngoài việc tôn vinh các danh nhân và kỳ tích thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tăng cường niềm tự hào dân tộc, ý thức quốc gia, cần khai thác và sử dụng có hiệu quả các loại hình nghệ thuật dân gian theo mục tiêu của lễ hội, đáp ứng nhu cầu văn hoá của cư dân.
 
 Thứ sáu, trong quá trình phục hồi và phát triển lễ hội, để đảm bảo sự lành mạnh và đúng hướng của lễ hội cần có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
 
 Có thể nói, việc phục hồi lễ hội trong vài thập kỷ gần đây trước hết là xuất phát từ nhu cầu tự thân của cư dân, có tính tự phát cao. Trong điều kiện của nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, đã có những tác động không nhỏ đến lễ hội, làm cho lễ hội thiếu tính lành mạnh. Chính vì vậy ở từng địa phương cần xây dựng các quy ước về lễ hội, đáp ứng nhu cầu bảo tồn, làm giàu và phát triển văn hoá dân tộc, chống xu hướng thương mại hoá lễ hội. Các quy ước này cần được thể chế hoá, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng của chủ nhân các lễ hội. Vì chính nhân dân, hơn ai hết là người sáng tạo, bảo tồn và phát triển di sản đó. Họ vừa là người sáng tạo, vừa là thành viên tham gia trực tiếp của lễ hội.
 
 Thứ bảy, bảo tồn và phát triển lễ hội cổ truyền cần chú ý xem xét giữa lịch đại và đồng đại và đặt nó trong tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng và từng địa phương.
 
 Cùng với quá trình phát triển của tộc người, lễ hội có quá trình hình thành rất lâu đời, từng ăn sâu vào tiềm thức của cư dân thể hiện trong hệ thống nghi lễ chứa đựng niềm tin có tính chất tôn giáo. Trong hệ thống các đối tượng thờ cúng chủ yếu là các lực lượng đa thần giáo, liên quan trực tiếp tới môi trường cảnh quan của các tộc người. Từ niềm tin đó đã xuất hiện các kiêng kị trong tập quán, những quy định trong việc bảo vệ môi trường như việc bảo vệ các khu rừng đầu nguồn, đầu bản, các quy định về bảo vệ nguồn nước... ở đây, niềm tin tôn giáo được kết hợp hài hoà với tri thức về bảo vệ nguồn tài nguyên và môi sinh - một trong những vấn đề mang tính thời đại. Khi xem xét hệ thống các nghi lễ dưới góc nhìn biện chứng sẽ giúp chúng ta có cách nhìn khách quan, không áp đặt đối với các hiện tượng văn hoá trong hoàn cảnh cụ thể của tộc người.
 
 Thứ tám, bảo tồn và phát triển lễ hội làm giàu thêm đời sống tinh thần của dân tộc, chống sự đứt gãy về văn hoá, ngăn chặn các yếu tố độc hại từ bên ngoài.
 
 Trong một số thập kỷ qua, bên cạnh những thành tựu quan trọng trong việc bảo tồn văn hoá cũng có không ít các vấn đề đặt ra, nhiều sắc thái văn hoá trong lễ hội bị mai một. Sự hụt hẫng và nghèo nàn về văn hoá đã tạo thành mảnh đất cho các thứ cỏ độc tràn lan, gây nên những nhiễu loạn về văn hoá.
 
 Thực tế phát triển cho thấy, do sự phục hồi không có định hướng, không có định hướng cái cũ, bên cạnh cái tốt đẹp, có không ít cái lỗi thời, phản văn hoá và tiến bộ, nảy sinh ra lớp người đầu cơ trục lợi, phát triển mê tín, dị đoan, bói toán, ma thuật cúng bái tràn lan trong lễ hội. Việc bảo tồn và đáp ứng nhu cầu tình cảm tâm linh và nhu cầu văn hoá trong lễ hội chính là bức tường thành vững chắc để ngăn chặn sự du nhập của văn hoá ngoại lai, xa lạ với dân tộc, gắn liền với những ý đồ chính trị thâm độc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.
 
 Để góp phần làm phong phú thêm lễ hội, bên cạnh các hoạt động mang đậm nét tính truyền thống cần xem xét và bổ sung các loại hình nghệ thuật mới như đồng diễn thể dục thể thao, hội diễn văn nghệ cơ sở... nhằm kích thích sáng tạo văn hoá làng bản trên nền tảng của lễ hội truyền thống nhằm góp phần bổ sung các giá trị và các loại hình nghệ thuật mới… “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại”.

PGS.TS Đỗ Đình Hãng
TS. Vũ Trường Giang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,904,855


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs