Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Những vấn đề đặt ra trong xây dựng và thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc


Anh Đặng Văn Nám xã Kế Thành, Kế Sách (Sóc Trăng) bên vườn bưởi năm roi. Ảnh CTV

Sóc Trăng là tỉnh nằm cuối lưu vực sông Hậu, được tách ra từ tỉnh Hậu Giang (cũ) năm 1992. Dân số toàn tỉnh hơn 1,3 triệu người, trong đó dân tộc Khmer chiếm 28,92%. Hầu hết đồng bào Khmer đều theo đạo Phật (Phật giáo Nam Tông), có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó với dân tộc. Khi tái lập tỉnh, tình hình sản xuất và đời sống của bà con Khmer phần lớn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và thiếu đói cao. Một bộ phận khá đông bà con còn ở nhà tạm bợ, nhiều hộ không có đất sản xuất, đất ở, nhà ở.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi triển khai thực hiện Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Tỉnh uỷ xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của tỉnh vào thực hiện chính sách dân tộc đối với vùng dân tộc Khmer. Từ đó, Tỉnh uỷ đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer. Đến khi có Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, Tỉnh uỷ xây dựng Chương trình hành động số 32-CTr/TU, triển khai Đề án “Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong vùng có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo đến năm 2010”. Đầu năm 2008, thực hiện chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã xây dựng và triển khai Kế hoạch “về quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc Khmer của tỉnh đến năm 2015” và Kế hoạch “củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở nơi có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo”.

Qua triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các đề án, kế hoạch đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, đặc biệt là thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và thực hiện các chương trình 135, 134... đã đạt được những kết quả quan trọng. Tỉnh đã triển khai đầu tư cho 54 xã đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí gần 700 tỷ đồng, xây dựng được 745 công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ..., nâng cấp, xây dựng hơn 300 km cầu, đường, xây dựng mới được 63 mô hình sản xuất. Đến nay, đã có 15 xã cơ bản hoàn thành các mục tiêu Chương trình đề ra; 100% xã thuộc Chương trình đã có trường trung học cơ sở và trạm y tế.

Trong 3 năm 2002 - 2004, triển khai Đề án hỗ trợ xây dựng nhà tình thương cho hộ nghèo, tỉnh đã xây dựng và cấp hơn 12.000 căn nhà cho hộ Khmer nghèo. Từ năm 2005 đến nay, thực hiện Chương trình 134 và Quyết định 167, tỉnh tiếp tục triển khai hỗ trợ xây dựng 38.728 căn nhà và hỗ trợ nước sinh hoạt cho trên 25.000 hộ Khmer nghèo, với tổng kinh phí trên 307 tỷ đồng. Từ năm 2000 đến nay, tỉnh triển khai thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước và hỗ trợ trực tiếp với tổng số tiền gần 40 tỷ đồng. Song song đó, tỉnh còn hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho gần 3.000 hộ, chuyển đổi ngành nghề cho trên 4.500 hộ, đào tạo nghề cho 3.000 lao động là đồng bào dân tộc Khmer, cho vay vốn phát triển sản xuất với số tiền hàng ngàn tỷ đồng và triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội khác. Tỷ lệ hộ Khmer nghèo năm 2001 là 42,92% (theo tiêu chí cũ) hiện nay giảm còn 19,16% (theo tiêu chí năm 2005). Các xã có đông đồng bào Khmer sinh sống đều có đường ôtô liên xã và đường ôtô đến trung tâm xã; trên 78,86% hộ Khmer ở nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh (năm 1992 là 20%); gần 70% hộ Khmer có điện sử dụng (năm 1992 là 10,05%).

Mặt bằng dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer được nâng lên một bước. Toàn tỉnh hiện có 160 trường dạy song ngữ Việt - Khmer, có 07 trường dân tộc nội trú và 01 Trường Bổ túc văn hóa Pali trung cấp Nam bộ; có 2.733 giáo viên Khmer (chiếm 19,7% giáo viên toàn tỉnh). Các chế độ, chính sách đối với giáo viên và học sinh người Khmer được thực hiện tốt. Từ năm 2001 đến nay, tỉnh đã cử tuyển 1.066 em vào các trường cao đẳng, đại học. Thực hiện Quyết định 112/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã hỗ trợ 41 tỷ đồng cho 38.870 lượt học sinh nghèo vùng đồng bào dân tộc khó khăn. Ngoài ra, tỉnh đang triển khai Đề án dạy nghề cho học sinh dân tộc nội trú theo Quyết định số 67/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc Khmer được quan tâm thực hiện. Hệ thống y tế được củng cố, cơ sở vật chất và trang thiết bị, đội ngũ y, bác sĩ được đầu tư, phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có 417 cán bộ y tế là người Khmer; 92/109 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Tỉnh đã tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả và đẩy mạnh việc xây dựng tụ điểm văn hóa trong các chùa Khmer. Toàn tỉnh hiện có 446 nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà thông tin ấp và 65 tụ điểm văn hoá chùa Khmer, 01 đoàn nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp, có 02 di tích lịch sử cấp quốc gia, 03 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh vùng đồng bào Khmer, có 01 nhà bảo tàng của tỉnh đang lưu giữ 462 hiện vật văn hoá truyền thống có giá trị về văn hoá lịch sử.

Các lễ hội theo phong tục tập quán và lễ hội tôn giáo của đồng bào, sư sãi Khmer được tổ chức theo nghi thức cổ truyền, phù hợp với điều kiện kinh tế và đúng quy định pháp luật. Việc tu hành của sư sãi và đồng bào Khmer được tôn trọng. Đặc biệt, năm 2008, Lễ hội Ooc - Om - Boc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách 15 lễ hội thuộc Chương trình quốc gia về du lịch Việt Nam.

Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh duy trì thời lượng phát thanh, truyền hình chương trình tiếng Khmer (hàng ngày phát thanh 03 buổi, truyền hình 02 buổi); các xã, phường có đông đồng bào Khmer và 50 điểm chùa đều có máy tiếp âm để phục vụ đồng bào. Tỉnh tiếp tục xuất bản và phát hành tờ Báo Sóc Trăng Khmer ngữ 01 kỳ/tuần, Tập san Khmer 02 kỳ/năm phát hành rộng rãi đến các cơ quan, ban, ngành và các chùa Khmer. Từ đó, góp phần tích cực nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên, sư sãi và đồng bào Khmer.

An ninh chính trị trong vùng đồng bào Khmer cơ bản ổn định. Những âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, kích động đồng bào và sư sãi Khmer của các thế lực thù địch được phát hiện, ngặn chặn kịp thời.

Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc Khmer được củng cố. Công tác phát triển đảng viên và quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc Khmer được tập trung lãnh đạo. Hiện nay, tổng số đảng viên người Khmer là 3.272 người (chiếm 12,51% tổng số đảng viên toàn tỉnh); có 4.291 cán bộ, công chức là người Khmer (chiếm 16,59%).

Những kết quả đạt được nêu trên tiếp tục khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với công tác dân tộc trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thể hiện sự vận dụng có hiệu quả của các cấp uỷ, chính quyền địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện chính sách dân tộc, thể hiện sự nỗ lực to lớn của nhân dân nói chung, đồng bào Khmer nói riêng. Đại bộ phận đồng bào, sư sãi Khmer trong tỉnh tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mặc dù có bước đi lên đáng kể, nhưng tình hình trong vùng đồng bào dân tộc Khmer và công tác dân tộc của địa phương cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết. Tốc độ phát triển kinh tế vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer còn chậm. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn yếu kém. Kết quả xoá đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo vẫn còn xảy ra. Phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng dân cư và trong đồng bào Khmer có chiều hướng gia tăng. Trình độ dân trí và tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Việc xây dựng các thiết chế văn hoá trong vùng đồng bào Khmer còn chậm. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào Khmer từng lúc vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc mặc dù được quan tâm thực hiện, nhưng kết quả còn hạn chế, nhiều nơi còn hụt hẫng. Tỷ lệ cán bộ, đảng viên người Khmer tuy có tăng nhưng còn thấp. Năng lực và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là cán bộ trực tiếp tham mưu thực hiện chính sách dân tộc ở cơ sở.

Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do một số nơi cấp uỷ, chính quyền nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện về công tác dân tộc và chính sách dân tộc trong tình hình mới. Việc triển khai, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, của Tỉnh uỷ về công tác dân tộc ở một số ngành, địa phương trong tỉnh còn bị động và nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền, giáo dục trong đồng bào Khmer chưa được tập trung đúng mức, có lúc chưa kịp thời. Một bộ phận đồng bào dân tộc xuất hiện tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Còn một số chính sách chưa phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

Trong thời gian tới, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng sẽ phát huy mọi nguồn lực để tiếp tục thực hiện tốt các chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc trong vùng đồng bào Khmer; đặc biệt là Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VI), Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX), Thông báo kết luận số 67-TB/TW, ngày 14/3/2007 của Ban Bí thư, các chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách an sinh xã hội, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự khởi sắc trong vùng đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh.

Hiện nay, Đảng và Nhà nước có rất nhiều chính sách an sinh xã hội đầu tư cho đồng bào dân tộc. Qua thời gian thực hiện, Trung ương cần xem xét, đánh giá những chính sách nào phát huy hiệu quả thì tiếp tục kéo dài thời gian thực hiện, những chính sách nào không còn phù hợp nên chấm dứt để tập trung nguồn vốn đầu tư cho các chương trình, dự án hiệu quả, tránh dàn trải. Trong đó, Chương trình 135 cần được tiếp tục thực hiện và phát huy như là mũi nhọn trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Việc xây dựng chính sách dân tộc vùng đồng bào Khmer trong thời gian tới phải hướng vào sự phát triển toàn diện, song phải lấy phát triển nông nghiệp và thủy sản làm nền tảng, tăng cường chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản, hàng hóa. Đặc biệt, phải chú ý đến đặc điểm, phong tục, tập quán liên quan đến sinh hoạt, đời sống, sản xuất của đồng bào ở từng vùng và yêu cầu thực tiễn đặt ra để chính sách có tính khả thi.

Đảng và Nhà nước cần có chính sách phát huy tinh thần tự lực, tự cường, nỗ lực, cố gắng vươn lên của đồng bào khmer. Hệ thống chính sách chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi và chỉ khi đồng bào biết phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của mình, khắc phục những hạn chế, yếu kém của bản thân. Để làm được điều này, trước hết cần tập trung xây dựng Đề án đầu tư phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí vùng đồng bào dân tộc; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào giảm bớt các phong tục, tập quán lạc hậu, lãng phí thời gian, tiền bạc của đồng bào. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; trong đó, cần tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở vùng dân tộc và hỗ trợ kinh phí xây dựng Nhà hát nghệ thuật tổng hợp dân tộc Khmer.

Bên cạnh, cần có chính sách huy động các nguồn lực của xã hội, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh trong vùng đồng bào dân tộc, thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho đồng bào.

Chính phủ sớm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân tộc đảm bảo ổn định, thống nhất để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt và mục tiêu chiến lược lâu dài của sự nghiệp đổi mới toàn diện vùng đồng bào dân tộc. Cơ quan dân tộc phải vừa là cơ quan tham mưu quản lý nhà nước, vừa là cơ quan đầu mối phối hợp, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến cơ sở và đồng bào.

Trung ương sớm hoàn chỉnh, ban hành Đề án “Tổng thể về chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ đến năm 2020”. Đây là Đề án mang tính chiến lược, cấp thiết và có ý nghĩa rất to lớn trong tình hình mới đối với vùng Tây Nam bộ. Trên cơ sở Đề án này, chúng ta mới có thể xây dựng chính sách phát triển nhanh, toàn diện và bền vững vùng dân tộc thiểu số Nam Bộ.

Võ Minh Chiến
Uỷ viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,837,979


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs