Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Cần nhận thức sâu sắc thực trạng, vị trí, tiềm năng của vùng dân tộc, miền núi


Trường Dân tộc Nội trú huyện Mường Khương (Lào Cai)

Vùng dân tộc, miền núi nước ta chiếm 2/3 diện tích cả nước, có vị trí trọng yếu về quốc phòng an ninh; là căn cứ địa vững chắc, chỗ dựa tin cậy của các cuộc chiến tranh giành độc lập và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Đây cũng là kho tàng tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển; là nơi khởi nguồn của các con sông lớn, các cánh rừng bất tận, nơi giữ gìn sự cân bằng môi trường sinh thái. Đặc biệt đồng bào các dân tộc thiểu số một lòng theo Đảng và Bác Hồ, trung thành với Tổ quốc, sống chất phác, bình dị, hết lòng hy sinh vì quyền lợi chung của dân tộc.

Từ khi ra đời tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chính sách dân tộc: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước, Đảng, nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí, phát triển sản xuất, hỗ trợ cải thiện nhà ở, đất ở và đất sản xuất, nước sinh hoạt, cấp không thu tiền một số loại báo, phương tiện tuyên truyền; có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, con em đồng bào các dân tộc thiểu số; tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc… Nhờ vậy, bộ mặt nông thôn miền núi nước ta được khởi sắc, đường giao thông, điện, nước, trường học, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng đến được trung tâm xã. Tỷ lệ giảm nghèo nhanh; đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tăng nhanh về số lượng và chất lượng; bản sắc văn hóa của các tộc người được tôn trọng, giữ gìn và phát huy; đồng bào các dân tộc thiểu số phấn khởi, tin tưởng vào tương lai đất nước. Đó là những thành tựu hết sức to lớn của chính sách dân tộc ở nước ta được bạn bè quốc tế thừa nhận
 
 Tuy nhiên, dù đã có nhiều chính sách, dù cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, dù đã quan tâm, chăm lo hết mực, nhưng chúng ta vẫn phải thừa nhận một sự thật là: đất nước càng phát triển thì mức sống của đồng bào vùng dân tộc, miền núi càng doãng xa so với mặt bằng trung bình của cả nước.
 
 Tại sao lý tưởng của chúng ta là muốn cho đời sống của đồng bào vùng dân tộc miền núi ngày càng phát triển, thu hẹp dần khoảng cách giữa các vùng miền, nhưng thực tế lại không đạt được. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan: Điểm xuất phát thấp; địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, nền sản xuất hàng hóa đang mới trong quá trình hình thành, người dân vẫn quen với lối sản xuất tự cung, tự cấp, dựa nhiều vào thiên nhiên; dân cư sống rải rác, do đó suất đầu tư lớn, hiệu quả đầu tư thấp… thì điều quan trọng nhất lúc này là phải mổ xẻ tìm cho hết các nguyên nhân chủ quan.
 
 Trong bài phát biểu quan trọng tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam đồng chí Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng đã có sự chỉ đạo hết sức sâu sắc. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, lực lượng vũ trang nhân dân phải nhận thức sâu sắc vị trí, tiềm năng của vùng dân tộc miền núi, để đầu tư, khai thác có hiệu quả nhất, làm cho vùng dân tộc miền núi trở thành vùng động lực phát triển của đất nước.
 
 Đúng là, mọi sự phát triển đều bắt nguồn từ nhận thức. Chúng tôi cho rằng cần phải nhận thức lại vấn đề phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi một cách nghiêm túc và khoa học. Trong các nguyên nhân chủ quan thì những nhận thức phiến diện, một chiều, thậm chí là lệch lạc về miền núi, dân tộc chính là nguyên nhân cơ bản đang kìm hãm sự phát triển của vùng này.
 
 Rất nhiều người trong cơ quan tham mưu chiến lược vẫn cho rằng, vùng miền núi, dân tộc không phải là vùng động lực phát triển, suất đầu tư quá lớn, hiệu quả kinh tế thấp, do đó dẫn đến các chính sách hiện hành vẫn chủ yếu là hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào xóa đói, giảm nghèo, khắc phục thiên tai, dịch bệnh, chứ không phải là đầu tư phát triển.
 
 Khi quan sát địa bàn cư trú của đồng bào các xã giáp biên giới, nhiều ý kiến cho rằng nên quy hoạch các khu tái định cư để tập trung đồng bào lại thì mới có thể đầu tư hạ tầng được. Không thể làm như vậy. Lịch sử bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia của dân tộc ta đã chứng minh rằng xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới là phương thức bảo vệ có hiệu quả nhất. Người dân hàng ngày sống, sản xuất, sinh hoạt là hành động thiết thực nhất để khẳng định chủ quyền quốc gia, quốc giới, không có đồng bào thì lập tức biên giới bị lấn chiếm, gậm nhấm bằng mọi hình thức. Công lao bảo vệ biên giới, bảo vệ tổ quốc của đồng bào vẫn chưa được trả công một cách xứng đáng.
 
 Khá nhiều quan niệm phiến diện, định kiến, nhưng đã trở thành cố hữu, trở thành như những lẽ phải thông thường: ở miền núi đất đai rộng lớn, nhưng do người dân chưa biết cách làm ăn, thậm chí do lười nhác nên đời sống đói khổ. Thực tế không phải như vậy. Ngoài rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, thì đất đai ở miền núi đang do nhiều nông, lâm trường, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp quản lý. Quá trình tích tụ đất đai ở miền núi diễn ra nhanh chóng hơn miền xuôi, tỷ lệ đất sản xuất trên đầu người ở các tỉnh Tây Bắc thấp nhất so với các vùng miền cả nước. Người dân ở đây đang thiếu đất sản xuất rất nghiêm trọng. Hàng chục ngàn hộ gia đình ở Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên chỉ có 30-50m2 đất làm nền nhà, không có đất sản xuất, hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách bảo vệ rừng của nhà nước. Ngay cả đồng bào dân tộc thiểu số ở chiến khu ATK, những người đã chịu nhiều hy sinh, gian khổ, cưu mang, che chở cho cách mạng những năm tháng đấu tranh giành và giữ chính quyền, bây giờ cuộc sống cũng còn rất nghèo. Ngẫm lại ta vẫn thấy có lỗi với đồng bào.
 
 Nhiều người vẫn hay nói rằng vùng dân tộc miền núi dân trí thấp, nhưng họ quên mất một điều: Đây là người dân ở một tộc người khác, một ngôn ngữ khác. Ngay từ mẫu giáo các em học sinh dân tộc thiểu số đã phải tiếp thu tri thức từ các cô giáo người kinh, cô giáo lại không biết tiếng dân tộc. Hậu quả là học sinh người dân tộc thiểu số không có đủ vốn tiếng việt để tiếp thu tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Chúng ta thử hình dung con em người kinh của ta vào học mẫu giáo lại do cô giáo người Anh dạy thì chúng ta mới chia sẻ cho tình trạng một số em người dân tộc thiểu số học đến lớp 10 mà không đọc thông, viết thạo tiếng Việt. Đó chính là nguồn gốc sâu xa làm cho chất lượng giáo dục miền núi ngày càng tụt hậu. Không nhìn thấy nguyên nhân gốc rễ đó mà cứ cho vì dân trí thấp nên chỉ chú tâm vào chế độ cử tuyển, ưu tiên trong thi cử. Các em sinh viên dân tộc thiểu số rất mặc cảm với tấm bằng đại học ghi cử tuyển, và thực tế xã hội vẫn phân biệt đối xử với tấm bằng này. Chúng ta đã hình thành một số trường đại học ở vùng dân tộc miền núi, nhưng hiện tại chỉ có 5-8% học sinh dân tộc thiểu số được vào học ở các trường này, nói một cách khác các trường Đại học ở vùng miền dân tộc, miền núi đang ngày càng xa rời mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho vùng dân tộc, miền núi như tuyên ngôn ban đầu của nó.
 
 Không ít người thường quan niệm vùng dân tộc miền núi lạc hậu, thấp kém, nói đến miền núi là nghĩ ngay đến sinh đẻ nhiều, là nghiện ngập, rượu chè, tập quán lạc hậu, ỷ lại, ngồi chờ sự hỗ trợ của nhà nước.v.v… do đó khi xây dựng và thực hiện chính sách thường áp đặt cách suy nghĩ của các vùng miền khác; dẫn đến những hậu quả không lường hết được. Chẳng hạn như đưa các giống cây con lên vùng cao không phù hợp điều kiện đất đai, thời tiết, nhiều khi thường chạy theo phong trào, gây lãng phí tốn kém ngân sách; trong khi các giống cây con truyền thống lại không được tôn trọng, quan tâm nghiên cứu phát triển, để cho mai một dần. Chính tình hình đó làm giảm niềm tin của đồng bào vào việc đưa tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Rất nhiều phong tục tập quán bị khai thác, gán ghép bởi các từ ngữ tiêu cực: Tục cướp vợ, chợ tình, ngủ mái, đi sim, chọc sàn… những cách suy nghĩ như thế dẫn đến định kiến, hiểu sai lệch bản sắc văn hóa, thiếu sự tôn trọng để đi sâu nghiên cứu, khai thác những giá trị tích cực phục vụ cho sự nghiệp phát triển miền núi. Chưa khơi dậy được lòng tự hào, tự tôn dân tộc thì chưa thể nói gì đến xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
 
 Những vấn đề nêu trên mới chỉ là những tảng băng nổi trên dòng chảy nhận thức về dân tộc, miền núi, nhưng cũng đã cho chúng ta thấy sự cần thiết phải thay đổi tư duy về miền núi, dân tộc.
 
 Trước hết miền núi, dân tộc là vùng chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển, cần phải quy hoạch các vùng kinh tế động lực của mỗi khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, để tập trung nguồn lực đầu tư đúng mức, tạo ra những trung tâm kinh tế-xã hội trọng điểm. Mỗi một tỉnh miền núi đều xây dựng các động lực trung tâm; Chính những trung tâm này sẽ trở thành động lực phát triển của vùng, của tỉnh, làm cho miền núi, dân tộc dần dần tự đứng vững trên đôi chân của mình trong quá trình phát triển, làm cho miền núi không phải là các toa tàu ỳ ạch, mà phải trở thành các đầu tàu cùng hợp lực trên chuyến tàu tốc hành của đất nước.
 
 Một vấn đề lâu nay ai cũng biết, đó là chất lượng nguồn nhân lực của vùng miền núi, dân tộc rất thấp. Đó là điểm “nghẽn” cốt tử; giải được bài toán chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả chất lượng cán bộ là giải pháp cơ bản, lâu dài nhất cho sự phát triển của miền núi. Thế nhưng chúng ta chưa đưa được các giải pháp hiệu quả, đủ sức mạnh. Phải chăng con em đồng bào các dân tộc thiểu số nên mở rộng đầu vào, quản lý chặt chẽ chất lượng đầu ra; tái cơ cấu lại mục tiêu đào tạo của các trường đại học ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để ưu tiên thu hút hết các em dân tộc thiểu số tốt nghiệp trung học phổ thông vào học chính thức hoặc dự bị đại học, sau thời gian dự bị, nếu em nào qua được kỳ thi tuyển thì vào học đại học, cao đẳng, còn lại chuyển các em sang học nghề. Chính sách học nghề phải hết sức đặc biệt. Các em được miễn học phí, được hỗ trợ lương thực, tiền ăn, ký túc xá.
 
 Đối với những chuyên ngành kỹ thuật, công nghệ ở các trường vùng miền núi dân tộc không có, thì mở các khoa dự bị đại học ở các trường kỹ thuật, công nghệ. Nhưng sau khi đã bổ túc kiến thức, qua thi tuyển đạt yêu cầu thì phải bố trí học chung với các em dân tộc đa số, không nên bố trí học riêng như hiện nay, các em dễ mặc cảm, tự ti. Khi thi tốt nghiệp nếu em nào không đạt thì phải tiếp tục học cho đến lúc thi đỗ.
 
 Nhà nước phải sửa đổi, bổ sung cơ chế tuyển dụng. Phải có một cơ quan chức năng có trách nhiệm tiếp nhận, bố trí, liên hệ bố trí công tác cho các em người dân tộc thiểu số khi ra trường, tránh kẽ hở phát sinh các tiêu cực như hiện nay.
 
 Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một nhận định rất chính xác: Nói đến dân tộc là nói đến hai điều cốt lõi nhất, đó là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và bản sắc văn hóa các dân tộc. Chúng ta đã quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nhưng có thể nói đang thiếu một chiến lược cơ bản, lâu dài. Nhiều nhiệm kỳ đã phải sắp xếp cán bộ cho có cơ cấu, chất lượng không đảm bảo. Một số cán bộ miền xuôi tăng cường lại chưa am hiểu phong tục tập quán, thiếu những hiểu biết nhất định về công tác dân tộc, văn hóa tộc người. Bản thân một số cán bộ người dân tộc thiểu số cũng không hiểu văn hóa của các dân tộc thiểu số khác nên quá trình công tác rất khó tạo sự đồng tâm hiệp lực. Cần xây dựng Học viện dân tộc để đào tạo cán bộ có trình độ đại học về công tác dân tộc, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp về công tác dân tộc, các vấn đề liên quan đến công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc miền núi.
 
 Những năm qua do kinh tế còn nhiều khó khăn, khi đầu tư vào vùng dân tộc miền núi, ta đang thiên về kinh tế, tập trung nhiều cho xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng, chưa đặt văn hóa đúng vị trí của nó. Có một thực tế là một bộ phận không nhỏ đồng bào đã xuất hiện tư tưởng ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của nhà nước, thiếu ý chí vươn lên để vượt nghèo. Nguyên nhân sâu xa là do khi xây dựng các chính sách chúng ta chưa quan tâm khơi dậy được lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Phải đi từ văn hóa, từ sự khôi phục các lễ hội truyền thống, ý thức cộng đồng, các luật tục tiến bộ, tiếng nói, trang phục… những điều tưởng như rất xa với kinh tế, nhưng đó lại chính là cội nguồn sức mạnh tinh thần. Không khơi dậy được lòng tự hào truyền thống, lòng tự trọng dân tộc thì chưa thể nói gì đến phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững.
 
 Những vấn đề nêu trên đặt ra sự cần thiết phải xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế-xã hội toàn diện và bền vững vùng dân tộc, miền núi trên nền một tư duy mới.

Tiến sĩ: Hoàng Xuân Lương
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,921,357


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs