Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 28/07/2010
Bắc Cạn quan tâm chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Xã Bằng Phúc, huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn) có độ cao gần 1.000 m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các xã quanh vùng, cho nên rất thuận lợi cho cây chè san tuyết phát triển. San tuyết là loại chè sạch, được người tiêu dùng ưa chuộng, nhân dân muốn trồng đại trà mà không có giống.

Trước tình hình đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Cạn phối hợp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu đề tài sản xuất giống chè san tuyết tại chỗ bằng phương pháp giâm cành, xây dựng vườn ươm giống, tập huấn cho người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến chè. Gia đình bác Nông Văn Thuyết ở thôn Nà Pài, xã Bằng Phúc đến nay đã trồng được gần hai ha chè san tuyết, trong đó có gần một ha do tỉnh đầu tư tiền mua giống, phân bón và tiền bảo vệ, chăm sóc trong bốn năm, diện tích còn lại do gia đình tự đầu tư trồng đã cho thu hoạch từ hai, ba năm nay. Chất lượng chè trồng cũng không thua kém so với chè cổ thụ, vì giống được nhân từ những cây cổ thụ đầu dòng cho nên vẫn giữ được hương vị đặc trưng, giá chè thành phẩm bán bình quân 100 nghìn đồng/kg. Trong những năm qua, tỉnh có chính sách khuyến khích, cho nên diện tích chè san tuyết ở Bằng Phúc đã tăng lên hơn 600 ha, bình quân mỗi hộ có khoảng một ha chè, sản phẩm được nhiều nơi biết đến, có đầu ra ổn định, góp phần giải quyết việc làm, thu nhập thường xuyên cho nhân dân trong xã chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Đến nay số hộ nghèo ở Bằng Phúc giảm xuống chỉ còn 15%.

Cây cam, quýt trên địa bàn tỉnh đã có từ những năm 60 của thế kỷ trước, trong đó có vùng quýt đặc sản ở xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông thơm ngon có tiếng. Nhưng diện tích ngày càng bị mai một vì cây già cỗi và bị sâu bệnh chết mà không có giống để trồng thay thế. Để giúp nhân dân giải quyết vấn đề giống, Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Cạn đã kết hợp với Viện nghiên cứu rau quả trung ương chuyển giao kỹ thuật trồng cây cam, quýt ghép. Ban đầu, nhân dân chưa tin tưởng, nhưng nhờ làm mô hình thành công, mời nhân dân đến tham quan, hướng dẫn kỹ thuật, bà con đã nhận ra rằng đây là phương pháp nhân giống nhanh, cây khỏe, ít sâu bệnh, dễ chăm sóc, chịu hạn tốt, quả vẫn giữ được hương vị đặc trưng, nhưng mẫu mã đẹp và to hơn. Vì thế, từ chỗ diện tích cam, quýt ở Quang Thuận chỉ được trồng nhỏ lẻ, nhưng khi cam, quýt ghép được nhân giống đại trà thì diện tích trồng đã không ngừng tăng lên, đến nay toàn xã đã có gần 400 ha cam, quýt của 340 hộ (chiếm 90% tổng số hộ của toàn xã), sản phẩm được thị trường ưa chuộng và đã tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Với giá bán bình quân mười nghìn đồng/kg đã mang lại thu nhập khá cao cho nhân dân, trong đó đã có khoảng 10% số hộ có thu nhập hơn 70 triệu đồng/vụ, nhiều hộ làm giàu từ quýt. Năm 1997, toàn xã có 50% số hộ nghèo, nhưng nhờ cây quýt mà đến năm 2009, số hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 10,2%. Khi đã giải quyết được vấn đề giống, tỉnh có chính sách hỗ trợ giá giống, phân bón để nhân dân các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn là những nơi có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp để nhân rộng diện tích cam, quýt. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Cạn, đến nay toàn tỉnh đã có gần 900 ha cam, quýt, giá trị kinh tế mang lại cho nhân dân năm 2009 là 71,9 tỷ đồng.

Pác Nặm là huyện đặc biệt khó khăn của tỉnh, trong đó có 90% số dân là đồng bào Mông, Dao, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 50% số hộ, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu đất ruộng để sản xuất. Năm 2003, tỉnh bắt đầu triển khai mô hình canh tác trên đất dốc, trong đó đã tập huấn kỹ thuật cho gần chín nghìn lượt chủ hộ, xây dựng mô hình canh tác giống lúa cạn LC 93-1, giống đậu tương DT84, trồng cây xanh vừa chống xói mòn, vừa cải tạo đất. Sau ba năm mô hình đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, canh tác trên đất dốc mang lại thu nhập bình quân 40 triệu đồng/ha, giống lúa cạn đạt năng suất bình quân 35 tạ/ha. Đến nay đồng bào trong huyện đã mở rộng, canh tác ổn định hơn 400 ha đất dốc, góp phần quan trọng giải quyết vấn đề đất sản xuất và lương thực ở một huyện vùng cao như Pác Nặm.

Hiện nay, tỉnh đang triển khai dự án đánh giá, tuyển chọn cây hồng không hạt đầu dòng, nhân giống, xây dựng mô hình thâm canh, cải tạo hồng không hạt, là cây đặc sản của các huyện Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cư trú và đất đai phù hợp. Mục đích là nhân giống, chuyển giao kỹ thuật trồng để xây dựng vùng sản xuất hồng hàng hóa tập trung. Đồng thời cũng tiến hành xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm hồng không hạt Bắc Cạn.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Cạn, tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm cho biết: “Từ năm 1998 đến nay, tỉnh triển khai 83 đề tài, dự án ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực sản xuất lương thực, cây lâm nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản. Đây là những lĩnh vực mà đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh rất thiếu kiến thức. Do đó, các đề tài, dự án chuyển giao kỹ thuật về các lĩnh vực nêu trên được triển khai đều phát huy hiệu quả cao trong thực tiễn”. Với những kết quả của những đề tài, dự án ứng dụng kỹ thuật vào các lĩnh vực đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Cụ thể là đến nay nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã thay đổi hẳn tập quán sản xuất, năm 1998 hệ số sử dụng đất chỉ đạt 1,2 lần thì đến năm 2009 đã tăng lên hai lần. Các giống lúa, ngô mới, tiến bộ kỹ thuật được sử dụng phổ biến và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã biết đầu tư thâm canh nên đã đưa năng suất lúa bình quân năm 1998 chỉ đạt 34 tạ/ha thì đến năm 2009 đã đạt 45 tạ/ha, bình quân lương thực tăng từ 279 kg/người/ năm 1998 lên 528 kg/người/năm 2009 và tỉnh đã giải quyết được vấn đề an ninh lương thực. Đến nay đã xác định được một số mô hình luân canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng đạt giá trị 70 triệu đồng/ha. Điều quan trọng khác là nhờ được chuyển giao khoa học, kỹ thuật nên đã làm thay đổi cách nghĩ, cách sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa.

Tuy nhiên, việc ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật cho đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay đang có một số rào cản. Đó là đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn giỏi trên địa bàn tỉnh còn thiếu, do không có cơ chế thu hút họ đến công tác tại địa phương. Các cơ quan chuyển giao công nghệ ở xa nên khó khăn khi phải giải quyết những vấn đề chuyên môn phát sinh trong quá trình ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ. Dịch vụ khoa học và công nghệ, cơ sở cung ứng giống cây trồng, vật nuôi trên địa bàn hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu; một bộ phận người dân tộc thiểu số còn trông chờ, ỷ lại, chưa quyết tâm ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào thực tiễn.

Để góp phần giải quyết những vấn đề đó, tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm kiến nghị: Cần có chính sách thu hút cán bộ kỹ thuật có chất lượng, có tâm huyết đến công tác ở những địa phương khó khăn. Do trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp, một số đề tài ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng còn chậm đi vào cuộc sống. Do đó, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho đồng bào dân tộc thiểu số cần sự tuyên truyền, vận động quyết liệt của cấp ủy và chính quyền cơ sở; đội ngũ cán bộ, đảng viên làm nông nghiệp phải ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trước để đồng bào noi theo.

Thế Bình

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,418


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs