Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Những kết quả và kinh nghiệm hoạt động Dự án phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc


Dự án VNM-J04 thăm và tặng quà Tết (2009) cho các học viên đang cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện cộng đồng huyện Bát Xát (Lào Cai)

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã có nhiều nỗ lực, hỗ trợ không ngừng trong công tác phòng chống ma tuý, HIV/AIDS ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung. Vùng dân tộc thiểu số còn nghèo nàn, trình độ dân trí hạn chế, địa hình đồi núi phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số cư trú dàn trải nên chưa thể kiểm soát chặt chẽ được tình hình lạm dụng ma tuý và HIV/AIDS nhất là sự chuyển đổi hành vi sang tiêm chích ma tuý. Tình hình lạm dụng và tiêm chích ma tuý đang trở thành vấn nạn, đồng thời cũng là nguyên nhân chính khiến HIV/AIDS lây lan nhanh, đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Tây Bắc như: Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái… Đây là một trong 04 tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống nhất cả nước.

Được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Dự án “Phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc Việt Nam - Mã số VNMJ04” - Mở rộng các dự án AD/VIE/01/B85, AD/VIE/04/H61, do Cơ quan Phòng chống Ma tuý và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) tài trợ, được triển khai thực hiện từ năm 2008 đến nay, tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai và Yên Bái. Sau khi thống nhất với các tỉnh, dự án đã chọn 27 xã ở các tỉnh Tây Bắc thực hiện dự án gồm: xã Chiềng Ly, Chiềng Pha, Phổng Lái, Mường é (huyện Thuận Châu - Sơn La), Chiềng Sinh, Chiềng Cơi, Chiềng Ngần (thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La). Các xã Na Ư, Mường Nhà, Mường Phăng, Nà Tấu, Nà Nhạn (huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên), Mường Đăng, Mường Lạn, Búng Lao, thị trấn Mường ảng (huyện Mường ảng - tỉnh Điện Biên). ở tỉnh Lào Cai gồm các xã Mường Hum, Dền Sáng, Dền Thàng, Nậm Pung, Trịnh Tường (huyện Bát Xát ), xã Tả Van, Lao Chải, Hầu Thào (huyện Sa Pa ); các xã Cát Thịnh, Sơn Thịnh, Đồng Khê (huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái).

Trong hai năm triển khai, dự án VNMJ04 đã hỗ trợ cho các Trung tâm cai nghiện Mường Hum, Trịnh Tường (huyện Bát Xát - Lào Cai), H61 Phổng Lái (xã Phổng Lái, huyện Thuận Châu - Sơn La), Vực Tuần (xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn-Yên Bái) tổ chức cai nghiện, quản lý, hỗ trợ cắt cơn trên địa bàn các tỉnh thực sự đạt hiệu quả, đáp ứng một phần không nhỏ nhu cầu chữa trị, cai nghiện ma tuý tại địa phương và còn giúp đỡ được cả các xã lân cận trên địa bàn dự án. Cụ thể, dự án đã hoàn thành 09 lớp cai nghiện cho 334 học viên, mỗi lớp kéo dài trong thời gian 03 tháng; tập trung chủ yếu là dân tộc Thái, Mông, Hà Nhì, Giáy, Kinh…; kết hợp mở các lớp đào tạo dạy nghề về kiến thức nông nghiệp, kỹ thuật trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm cho các học viên trở về tái hòa nhập với cộng đồng. Đến nay, tỷ lệ tái nghiện là rất thấp. Đặc biệt dự án còn thành lập các Câu lạc bộ sau cai sinh hoạt thường xuyên hàng tháng nhằm quản lý chặt chẽ số người nghiện ma tuý và người liên quan tới ma tuý trên địa bàn dự án. Hoàn thành bộ tài liệu truyền thông phù hợp với văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số; cấp phát 48.000 bút bi, 8.341 sổ sách, thiệp thông tin, tranh áp phích lớn nhỏ. Tổ chức truyền thông tiếp cận cộng đồng và giảm tác hại cho người dân, người sử dụng ma tuý, người nhiễm HIV với tổng số 1.068 buổi cho 20.922 lượt người tham dự; cấp phát được 83.892 bơm kim tiêm sạch; 135.220 bao cao su. Ngoài ra, dự án còn tổ chức 41 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho 1.162 cán bộ các cấp, các ngành liên quan và đội ngũ giáo dục viên đồng đẳng/cộng tác viên tiếp cận cộng đồng về tình hình ma tuý, HIV/AIDS, các kiến thức chung về ma tuý, HIV/AIDS; Luật phòng chống ma tuý sửa đổi, Luật phòng chống HIV/AIDS và các văn bản của Chính phủ về giảm tác hại; kỹ năng truyền thông tiếp cận cộng đồng; các kiến thức cơ bản phòng chống tái nghiện, đường lây truyền, cách phòng chống HIV/AIDS. Tổ chức thành công 02 chuyến tham quan học hỏi kinh nghiệm tại các cơ sở điều trị bằng dược chất Methadone thay thế và mô hình cai nghiện trong nước và quốc tế cho 08 lãnh đạo đại diện các tỉnh dự án. Đặc biệt, dự án còn tổ chức tập huấn chương trình tài chính vi mô cho đội ngũ cán bộ xã và Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ các thôn cho 240 thành viên, các thành viên này đều được vay vốn tài chính vi mô của dự án ban đầu với mức 1 triệu đồng/01 hộ, để tăng gia sản xuất, số tiền tuy nhỏ nhưng từng bước tạo thói quen cho bà con dân tộc biết cách tiết kiệm.

Qua hai năm thực hiện dự án VNMJ04, cho thấy dự án đã có tác động hiệu quả nhất định trong việc phòng chống lạm dụng ma tuý, HIV tại các địa phương (Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái). Ban quản lý dự án VNMJ04 đã đôn đốc, chỉ đạo từ tỉnh đến các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tổ chức triển khai nghiêm túc các hoạt động, từng bước nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao về tác hại, hiểm hoạ của ma tuý và HIV/AIDS. Đồng thời, dự án VNMJ04 phối hợp chặt chẽ với Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS các tỉnh chỉ đạo mạnh các xã dự án triển khai các hoạt động truyền thông, cấp phát bơm kim tiêm, bao cao su, tài liệu về ma tuý, HIV/AIDS miễn phí thường xuyên.

Sau khi thống nhất, Cơ quan Phòng chống Ma tuý và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) và ủy ban Dân tộc (CEM) đã nhất trí kéo dài dự án VNMJ04 thêm 01 năm (hết năm 2010); năm 2010, dự án VNMJ04 tập trung vào các hoạt động như truyền thông của nhóm giáo dục viên đồng đẳng/cộng tác viên tiếp cận cộng đồng, tài chính vi mô, tập huấn nâng cao kiến thức trong công tác phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV/AIDS là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết hàng đầu. Tìm cách để lồng ghép các chương trình tuyên truyền phòng chống lạm tuý và HIV với các chương trình mục tiêu quốc gia sao cho phù hợp với người dân và đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa miền biên ải Tây Bắc nơi Đảng, Nhà nước, Chính Phủ đang có sự quan tâm đặc biệt. Trong những năm qua, dự án đã phối hợp với các tỉnh tăng cường tuyên truyền về tính chất nguy hiểm của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS nhằm giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và người dân vùng cao Tây Bắc nói chung nhận thức rõ và có biện pháp chủ động ngăn ngừa một cách có hiệu quả.

Công tác phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV được coi là nhiệm vụ cấp bách lâu dài của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và toàn xã hội. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà dự án VNMJ04 cần hướng tới là làm tốt các hoạt động phòng chống lạm dụng ma túy và tuyên truyền kiến thức phòng tránh HIV/AIDS có hiệu quả: các biện pháp phòng, chống, các chương trình, mục tiêu y tế quốc gia, nhằm ngăn chặn các dịch bệnh nguy hiểm trên địa bàn các tỉnh dự án nói riêng và cả nước nói chung.

Trong quá trình thực hiện dự án cũng bộc lộ một số khó khăn hạn chế: Phạm vi hoạt động, quy mô đầu tư của dự án VNMJ04 còn nhỏ, chủ yếu tập trung vào các hoạt động nâng cao nhận thức và hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm đối tượng tham gia giảm tác hại ma tuý và HIV/AIDS.

Chưa bố trí được nguồn nhân lực đầu tư hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động cai nghiện, giảm tác hại ma tuý, HIV/AIDS một cách bền vững ở cộng đồng vùng dự án.

Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV ở các địa phương còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm nên hiệu quả công tác còn hạn chế.

Trình độ dân trí, khả năng nhận thức của một số người dân vùng dự án về giảm tác hại ma tuý và HIV còn hạn chế. Còn tư tưởng e ngại khi tiếp cận, thậm chí có nơi còn phản đối các hoạt động giảm tác hại, đặc biệt là chương trình trao đổi bơm kim tiêm.

Sự cần thiết trong việc thực hiện các dự án này là phải đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ các điều kiện, phương tiện hoạt động, để đảm bảo cho các hoạt động của dự án lâu dài và bền vững.

Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền; có chính sách hỗ trợ cho các dân tộc đặc biệt khó khăn (về tài chính, việc làm...); đa dạng hoá các hình thức cai nghiện ma tuý, tuyên truyền cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS.

Cần phải xây dựng một văn kiện dự án ít nhất là từ 5 năm trở lên để có thời gian triển khai các hoạt động của dự án toàn diện và bền vững hơn tại các cơ sở vùng các dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn.

Để giải quyết những vấn đề cấp bách liên quan đến ma tuý và HIV, cần phải có sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong nước với các tổ chức quốc tế và sự tham gia của cộng đồng các dân tộc.

Hoạt động cai nghiên và phục hồi dựa vào cộng đồng của dự án cần huy động các tổ chức chính trị, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở vào cuộc, toàn dân đồng tình, tham gia sẽ mang lại kết quả bền vững .

Hoạt động phòng chống lạm dụng ma tuý sẽ không thể thành công nếu chỉ dựa vào cơ quan cai nghiện ma tuý chuyên nghiệp, hoặc một tổ chức, đơn vị và cá nhân địa phương hoạt động đơn lẻ.

Giảm được tệ nạn ma tuý, mại dâm là cơ bản giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, các cấp, các ngành, phối hợp truyền thông sâu rộng kiến thức và các biện pháp tự phòng tránh cho mỗi người dân, giúp người nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS xoá được mặc cảm, tự ti, vươn lên để sống hoà hợp với cộng đồng có ích hơn, hoà hợp với cộng đồng như mong muốn của cơ quan phòng chống Ma tuý và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) đã và đang hỗ trợ thực hiện có kết quả một số địa phương vùng các dân tộc thiểu số Tây Bắc.

Trên cơ sở trợ giúp tích cực của Cơ quan phòng chống Ma tuý và Tội phạm của Liên hợp quốc, phía Chính phủ Việt Nam, CEM (Uỷ Ban Dân tộc) và các địa phương cần tăng cường sự phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, các cơ quan chức năng liên quan ở các địa phương nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về hiểm hoạ, tác hại của ma tuý và HIV/AIDS cho bà con dân tộc để tiếp tục duy trì triển khai dự án VNMJO4 ở vùng các dân tộc thiểu số có kết quả và bền vững.

TS. Lò Giàng Páo - Duy Dũng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,738


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs