Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Thực hiện công tác dân tộc ở huyện Bù Đăng


Bà con dân tộc thiểu số huyện Bù Đăng (Bình Phước) chăm sóc cây điều

Bù Đăng là một huyện miền núi của tỉnh Bình Phước, có 21 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 37% dân số; mặt bằng dân trí còn thấp. Đời sống kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nên gặp nhiều khó khăn.

Là huyện đa dân tộc, vì vậy, từ ngày tái lập huyện (1988), Đảng bộ huyện đã có nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc, coi công tác dân tộc là một trong những nhiệm vụ được ưu tiên chỉ đạo, trọng tâm là vận động đồng bào dân tộc thực hiện định canh định cư, tách hộ vườn. Thực hiện Nghị quyết 07 của Tỉnh uỷ Bình Phước về phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi và dân tộc, tháng 01/1999, huyện Bù Đăng đã ban hành Nghị quyết số 121-NQ/HU về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc của huyện.

Với việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết này, đến nay, 100% hộ đồng bào dân tộc của huyện đã thực hiện định canh định cư. Từ chỗ chỉ độc canh cây lúa rẫy, nay đồng bào dân tộc đã biết trồng cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao.

Các chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc qua các chương trình, dự án như chương trình 134, 135, 168, dự án CBRIP... đã tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc phát triển kinh tế, từng bước ổn định cuộc sống, xoá đói giảm nghèo. Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện một bước. Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng đã thúc đẩy nền kinh tế từng bước phát triển; giao thông nông thôn được thông suốt từ xã đến thôn đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa. Hệ thống điện lưới quốc gia đã đến từng thôn, ấp, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, nâng cao việc hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào dân tộc. Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được một số kết quả nhất định, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,2% (theo chuẩn mới), không còn hộ đói nghèo kinh niên; số hộ khá, giàu ngày một tăng lên. Công tác giáo dục, y tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước phát triển mới. Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được cải thiện, nhiều loại dịch bệnh được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm. Hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường và củng cố; quốc phòng-an ninh được giữ vững.

Tuy vậy, bên cạnh kết quả đã đạt được, so với sự phát triển chung của toàn huyện thì đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc ở một số xã còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của đồng bào; tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao so với bình quân chung của huyện. Một bộ phận đồng bào dân tộc còn trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, nhận thức còn hạn chế, không chịu khó lao động nên xảy ra tình trạng bán điều bông, mỳ đám và vay mượn tiền với lãi suất cao để tiêu xài trước rồi tới mùa nợ, mất rẫy, không còn đất sản xuất. Tình trạng dân di cư tự do dẫn đến nạn phá rừng làm rẫy, gây xáo trộn trong công tác quy hoạch. Công tác quản lý và thực hiện một số dự án hiệu quả chưa cao. Chất lượng giáo dục-đào tạo còn thấp, tỷ lệ học sinh dân tộc bỏ học nhiều, nhất là khi vào mùa vụ. Việc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em là con em đồng bào dân tộc còn cao. Bản sắc văn hóa các dân tộc đang bị mai một. Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào dân tộc còn thấp.

Hệ thống chính trị ở một số cơ sở còn yếu, năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn tiềm ẩn, nhiều nguy cơ; một số vấn đề bức xúc của đồng bào dân tộc chậm được giải quyết. Tình hình trên ảnh hưởng đến đời sống của người lao động, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, những người có thu nhập thấp, từ đó nảy sinh những vấn đề liên quan đến xã hội cũng như hiệu quả hoạt động lãnh đạo chỉ đạo nói chung, các thế lực thù địch lợi dụng những khó khăn nhất thời để hoạt động chống phá.

Để tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, trong thời gian tới Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp sau:

1. Tiếp tục rà soát các chính sách đã triển khai; xây dựng, kiến nghị bổ sung chính sách mới, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế-xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung nguồn lực đầu tư phát triển và hoàn thiện kết cấu hạ tâng kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trước hết đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông nông thôn, đường điện, trường học, trạm y tế và các công trình nước sạch. Quy hoạch vùng sản xuất, quy hoạch ổn định dân cư; tập trung giải quyết tốt nhu cầu về đất sản xuất, đất ở, nhà ở, định canh, định cư; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đói giáp hạt, thiếu nước sinh hoạt trong vùng đồng bào dân tộc; ngăn chặn, chấm dứt nạn phá rừng làm rẫy.

2- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn; phát huy tiềm năng, lợi thế từng vùng để phát triển kinh tế. Tiếp tục đầu tư, hỗ trợ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh, chăn nuôi, kinh tế rừng và các dịch vụ để tạo việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hóa các mô hình kinh tế hộ gia đình theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp, công ty đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, công ty đầu tư hiệu quả, gắn với giải quyết lao động, việc làm ở địa phương.

3- Tập trung phát triển giáo dục, y tế, văn hóa. Củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo, nhất là trường dân tộc nội trú Điểu Ong của huyện. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, dạy nghề trong vùng dân tộc thiểu số, nhất là đối tượng thanh niên; các doanh nghiệp, công ty trên địa bàn ưu tiên tuyển dụng lao động là con em dân tộc thiểu số vào làm việc. Bổ sung, sửa đổi các chính sách cử tuyển, bố trí, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số; tăng nguồn lực đầu tư cho giáo dục-đào tạo giáo viên người dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tiến hành rà soát việc cấp bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, ở các xã đặc biệt khó khăn. Tăng cường bồi dưỡng cán bộ y tế tại chỗ và cán bộ y tế thôn, ấp là người dân tộc thiểu số. Thực hiện có hiệu quả các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền ở cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt việc sưu tầm, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng làng nghề văn hóa Bom Bo và làng nghề thổ cẩm xã Đồng Nai.

4- Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục nâng cao kiến thức quốc phòng-an ninh cho cán bộ và nhân dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số; kết hợp phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng-an ninh ở cơ sở. Thường xuyên quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, nắm chắc diễn biến tâm tư, tình cảm của đồng bào dân tộc; giải quyết tốt, kịp thời những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, cơ bản của đồng bào dân tộc. Chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc chính sách của Đảng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

5- Tập trung củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Xây dựng cơ sở Đảng và chính quyền cơ sở vững mạnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, nghiệp vụ vận động quần chúng cho cán bộ khối Mặt trận, đoàn thể, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng lực lượng cốt cán và chính sách phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Củng cố và hoàn thiện bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là ở cấp huyện, xã cho phù hợp tình hình hiện nay. Có chính sách ưu tiên trong công tác đào tạo, quy hoạch, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; bảo đảm các dân tộc thiểu số có tỷ lệ cán bộ hợp lý tham gia các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ-công chức là người dân tộc thiểu số từ 11% (năm 2010) lên 15% năm 2015.

6- Thường xuyên kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết, các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp đặc biệt là ở cơ sở. Phát huy dân chủ ở cơ sở để khuyến khích người dân, các tổ chức nhân dân tham gia xây dựng các chương trình, đề án, dự án và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguyễn Quang Toản - Bí thư Huyện uỷ Bù Đăng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,715


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs