Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 28/07/2010
Giảm nghèo cho cộng đồng sống trong vùng ranh giới của khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập ngày 06/10/2000, nằm trên địa bàn 4 xã: Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, Thanh Vân và Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Đây là khu vực cư trú lâu đời của cộng đồng người Mông, Dao, Tày, Nùng… Đời sống của đại bộ phận nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất hầu như không phát triển, phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ, ảnh hưởng đến mục tiêu bản tồn và phát triển bền vững.

Thời gian qua, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã tiến hành hoạt động “phân tích những vấn đề nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp giảm nghèo cho cộng đồng sinh sống trong vùng ranh giới của Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn”, nhằm đề xuất các giải pháp cải thiện sinh kế cho cộng đồng tại chỗ và góp phần bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Từ kết quả điều tra, thảo luận và phân tích cho thấy có 10 vấn đề nổi cộm; trong đó có ba vấn đề “Chính sách lâm nghiệp chưa rõ ràng”, “thu nhập từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ ngày càng giảm” và “các mô hình phát triển tổng hợp chưa được chú trọng ” cần ưu tiên giải quyết hơn cả theo các nhóm giải pháp sau:

Giải pháp tăng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ được lựa chọn cao nhất là hỗ trợ gây trồng các loại lâm sản có lợi thế trong khu vực: cây thảo quả, củ tam thất, cây một lá, rau bò khai… (50% số hộ). Ngoài ra, có khoảng 53% số hộ đề nghị cần thiết có hỗ trợ dịch vụ đầu vào: giống, kĩ thuật trồng, chăm sóc và thị trường cho các loại lâm sản ngoài gỗ từ các chương trình, dự án phát triển; tăng số loài lâm sản ngoài gỗ được khai thác hợp pháp từ rừng (33% số hộ) và sản lượng được phép khai thác (25% số hộ).

Đối với các khu rừng nghèo như rừng phòng hộ, rừng sản xuất, muốn cải thiện thu nhập, cộng đồng đề xuất giải pháp là làm giàu rừng bằng tập đoàn cây bản địa, cây đa tác dụng, cây mọc nhanh: lát hoa, sấu, ram, mỡ, sa mộc… (55% số hộ). Ngoài ra, còn đề xuất xem xét khả năng áp dụng các giải pháp kĩ thuật lâm sinh thích hợp: tỉa thưa, khai thác chọn, trồng xem kẽ…để có thể khai thác gỗ, củi của các trạng thái rừng một cách bền vững phục vụ cho sinh hoạt và hàng hóa. Tuy nhiên bên cạnh các nhóm giải pháp này cần phải thiết lập các thỏa thuận và quy ước về sử dụng tài nguyên giữa cộng đồng với Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn. Tiền công khoán bảo vệ rừng cũng được khoảng 75% số hộ đề cập đến, theo hướng đề xuất tăng tiền công để nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng. Tiền công cần xây dựng trên cơ sở tăng trưởng rừng hoặc giá trị của khu rừng. Một số ý kiến đề xuất cần nâng lên đến 150.000đ - 200.000đ/ha/năm và chỉ tổ chức bảo vệ nơi nào cần thiết, không làm tràn lan.

Hiện nay 80% số hộ đang sinh sống trong ranh giới Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn mong muốn được tiếp cận với các mô hình phát triển kinh tế tổng hợp, giúp tăng thu nhập hộ gia đình và tạo việc làm thường xuyên, đồng thời giảm áp lực phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Một mô hình tiêu biểu được cộng đồng hưởng ứng là:

+ Vườn rừng (R): Cây lấy gỗ (Lát hoa, giổi, trám…); Cây nguyên liệu (Lanh, tre trúc, song mây); Cây thuốc; Thức ăn gia súc.

+ Vườn hộ (V): Cây lương thực (cây ngô, cây đậu tương); Cây ăn quả (táo, mận, hồng…); Rau màu; Thức ăn gia súc.

+ Chuồng trại (C): Khu chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan); Khu chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò, ngựa…); Khu chăn nuôi lợn; Khu chăn nuôi nhím, thỏ…

Mô hình này sẽ làm tăng thu nhập hộ gia đình nhờ bán các sản phẩm có giá trị; cung cấp bền vững lương thực, thực phẩm, cây thuốc mà không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Khu bảo tồn thiên nhiên; cung cấp gỗ, củi thường xuyên cho nhu cầu sinh hoạt gia đình; tạo ra chất đốt thay thế bởi các hầm Biogas nhờ lấy phân và chất thải trong chăn nuôi.

Một giải pháp nữa là giải quyết bất bình đẳng trong khoán bảo vệ rừng. Trong thực tế, tiền công khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ lương thực chưa được chi trả đầy đủ đến từng hộ gia đình. Ngoài ra vấn đề tổ chức, lập kế hoạch vị trí giao khoán,…cần được tổ chức rõ ràng và minh bạch với sự tham gia của người dân, cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ. Cộng đồng cũng cho rằng cần có các giải pháp thay thế, tác động vào các khu rừng nghèo được giao để tăng thu nhập tại chỗ cho hộ gia đình như hỗ trợ kĩ thuật, phát triển cây đặc sản và lâm sản ngoài gỗ, cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra cho từng sản phẩm. Nhiều ý kiến khác đề nghị nên quy hoạch lại chủ thể quản lý và tổ chức giao rừng cho cộng đồng quản lý ở những nơi nhạy cảm và nơi có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh đó cần có giải pháp thu hút người nghèo tham gia vào chương trình 661. Hiện tại các chính sách, sự tham gia và hưởng lợi trong Chương trình 661 chưa được phổ biến đến người dân, ngay cả cán bộ phụ trách lâm nghiệp, địa chính xã. Do đó điều đầu tiên cần làm là cung cấp đầy đủ, rõ ràng thông tin chính sách để hộ gia đình có cơ hội lựa chọn (33% số hộ).

Các nhóm giải pháp nêu trên để giải quyết các vấn đề tồn tại, nhìn chung đều được đồng thuận ở tất cả các cấp, các đối tượng tham gia phỏng vấn, đánh giá. Tuy nhiên còn một số nhóm không tán thành giải pháp đồng quản lý rừng giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn với cộng đồng và hộ gia đình, vì cho rằng có sự khác biệt rất lớn giữa năng lực, trình độ quản lý của các bên. Chức năng, nhiệm vụ của Khu bảo tồn thiên nhiên là tổ chức hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, trong khi đó các cộng đồng và hộ gia đình vì hoạt động sinh kế nên vẫn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, do vậy, việc đồng quản lý là không khả thi; cần phải có 2 giải pháp bổ sung:

- Một là phát triển hệ thống chính sách và hành chính phù hợp với quản lý rừng cấp hộ gia đình và cộng đồng. Đó chính là các thỏa thuận và quy ước bảo vệ, sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Giải pháp này nhằm giải quyết các nguyên nhân thiếu hụt cơ chế, thể chế cho quản lý rừng, các cơ chế hưởng lợi thích hợp cũng như thủ tục lưu thông lâm sản tại cộng đồng.

- Hai là quy hoạch sử dụng đất phải có sự tham gia từ cấp thôn, xã, huyện, khu bảo tồn thiên nhiên để có sự đồng thuận và có tính pháp lý cao trong phân định chủ quản lý rừng, đất rừng, quy hoạch đó phải gắn với truyền thống quản lý đất của các cộng đồng.

 Đỗ Văn Trường

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,468,109


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs