Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 21/07/2011
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao trình độ học vấn cho thanh niên dân tộc ở Tây Nguyên


Đồng bào dân tộc tiếp cận công nghệ thông tin. Ảnh Hải Minh

Tổng số thanh niên của toàn Tây Nguyên hiện nay là 1.338.083 người, chiếm gần 27,8% dân số và gần 50% lực lượng lao động toàn vùng, trong đó thanh niên dân tộc thiểu số có 433.699 người (chiếm 34% số thanh niên trong khu vực). Hiện nay, do điều kiện học tập được cải thiện nên số lượng thanh niên trường học tăng lên hàng năm, chiếm từ 13% đến 30% tổng số thanh niên, tuỳ điều kiện riêng của từng tỉnh; đặc biệt tỷ lệ sinh viên trong thanh niên trường học ở một số tỉnh không ngừng tăng lên. Đây chắc chắn sẽ là một khởi đầu tốt đẹp cho mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực trẻ của Tây Nguyên trong thời kỳ mới. Việc đánh giá chất lượng công tác Giáo dục - Đào tạo có ý nghĩa về mặt khoa học trong việc đề ra các giải pháp để nâng cao trình độ học vấn cho thanh niên ở Tây Nguyên. Điều này có tác động rất lớn đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ nói riêng và đoàn kết tập hợp thanh niên các dân tộc nói chung:

Hiện nay quy mô mạng lưới trường học tại Tây Nguyên được mở rộng đến các địa bàn khu dân cư và cơ bản hoàn thiện. Toàn vùng vào thời điểm tháng 6/2008 có 8 trường cao đẳng và 5 trường đại học với các ngành đào tạo ngày càng đa dạng. Các hoạt động liên kết đào tạo với các trường đại học và cao đẳng trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Các trường cao đẳng cũng bước đầu phục vụ nhu cầu học tập và nâng cao trình độ học vấn của lao động Tây Nguyên với chủ yếu là ngành sư phạm; 2 trường Cao đẳng nghề tại Đăk Lăk - trong đó có 1 trường cao đẳng nghề dân tộc. Lĩnh vực đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề luôn được chú trọng, có nhiều đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Hiện nay, tại các tỉnh Tây Nguyên đều phát triển hệ thống các trường dạy nghề để đáp ứng nhu cầu rất lớn của người lao động, đặc biệt là thanh niên.

Hoạt động giáo dục thường xuyên cũng luôn được quan tâm, chú trọng, nhất là các lớp sau xoá mù chữ, đồng thời mở các lớp bổ túc trung học cơ sở để góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên toàn vùng. Các lớp giáo dục từ xa, trung tâm học tập cộng đồng... đào tạo nhiều cấp học, ngành học đã tạo cơ hội nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ xã, phường và thanh niên có hoàn cảnh khó khăn không theo học được tại các trường phổ thông. Tuy nhiên, tại Tây Nguyên, mạng lưới trường, lớp, các cấp học vẫn phân bố chưa đều giữa các tỉnh, giữa các địa bàn trong tỉnh và chưa hợp lý về ngành đào tạo. Hiện nay, tỉnh Đăk Nông vẫn là “vùng trắng” về giáo dục đào tạo đại học - cao đẳng. Đáng chú ý là trong hệ thống mạng lưới trường chưa có trường đại học dành riêng cho người dân tộc. Trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên chỉ Đăk Lăk có được 1 trường cao đẳng nghề dân tộc, còn các tỉnh khác hoàn toàn chưa có mô hình giáo dục này. Trong giáo dục phổ thông cũng còn nhiều bất cập về mạng lưới trường lớp, tỷ lệ học sinh giữa các cấp và tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi. Mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú ở một số nơi vẫn có những khó khăn như: cơ sở vật chất trường, lớp; nơi ăn ở, điều kiện phục vụ sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao quá thiếu thốn và tạm bợ (thậm chí không ít nơi chưa có gì); trong khi đó nhu cầu, nguyện vọng của học sinh muốn học tại các trường (lớp) này là rất lớn (nếu được đầu tư về cơ sở vật chất và có chính sách hỗ trợ về đời sống, số lượng học sinh ước tính hơn 5.000 em/năm học).

Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên của các tỉnh Tây Nguyên không ngừng tăng lên và trưởng thành về nhiều mặt. Đội ngũ giáo viên phổ thông các cấp, giáo viên dạy nghề và trung học chuyên nghiệp cơ bản đủ về số lượng. Tỷ lệ giáo viên và cán bộ quản lý đạt chuẩn không ngừng tăng lên. Tình hình thiếu trầm trọng giáo viên ở vùng khó khăn như các năm trước đã được khắc phục. Tuy nhiên, trong giáo dục phổ thông, một số giáo viên được đào tạo ở các loại hình chuyên tu, tại chức, cử tuyển, liên kết nên chất lượng kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm và phương pháp dạy học còn yếu. Số lượng giáo viên chưa đạt chuẩn còn khá nhiều, một bộ phận giáo viên tiểu học ở vùng sâu, vùng xa còn lúng túng bỡ ngỡ trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp dạy học với đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số. Hơn nữa, đội ngũ giáo viên phổ thông lại mất cân đối, thiếu cục bộ trong một số môn học như: tin học, nhạc, thể dục, kỹ thuật. Đội ngũ nhân viên (văn thư, kế toán, thư viện, thí nghiệm, y tế...) còn thiếu và không đạt chuẩn. Trên thực tế, phần lớn giáo viên không phải là người dân tộc thiểu số, không biết tiếng nói của đồng bào đã tác động không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Một bộ phận đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục năng lực còn hạn chế.

Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học vẫn có những bất cập; quy mô và mạng lưới trường lớp tuy đã được mở rộng đến các địa bàn dân cư nhưng điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của giáo dục. Số phòng học tạm bợ tranh tre nứa và số phòng học mượn còn lớn. Phòng ở và phục vụ cho học sinh học 2 buổi/ngày thiếu trầm trọng. Đa số các trường thiếu phòng chức năng, phòng thí nghiệm, thực hành, phòng máy tin học, phòng ngoại ngữ, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh... Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học trong giáo dục cao đẳng, đại học và dạy nghề cũng thể hiện sự nghèo nàn và chưa có được sự đầu tư cần thiết. Trong thời gian qua, chất lượng dạy học nhìn chung có được nâng lên, nhưng vẫn thấp hơn nhiều vùng khác trong cả nước. Tại Đăk Lăk, 29,2% học sinh có học lực yếu và kém. Tại Kon Tum, tỷ lệ học sinh có học lực yếu, kém là 20,56%. Chương trình học được cố định trong toàn quốc, không phân biệt vùng, miền, đối tượng và thành phần học sinh quả thực là một thách đố đối với giáo dục - đào tạo Tây Nguyên.

Vấn đề trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao động nói chung và đội ngũ thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên nói riêng đang là bài toán khó cần có lời giải kịp thời. Theo số liệu của Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh Đăk Nông, 80% lao động đang làm việc tại các cơ sở kinh tế trong tỉnh mù chữ hoặc chưa học hết cấp 1 và chưa qua đào tạo nào về chuyên môn nghiệp vụ. Đội ngũ lao động có trình độ kĩ thuật, có chuyên môn rất mỏng - tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo ở Tây Nguyên là 83,3 % và lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 3,5% lao động (trong đó chủ yếu là giáo viên); thậm chí ở Đăk Lăk còn trên 10 dân tộc chưa có trí thức của mình. Trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ thấp kém là một cản trở rất lớn cho bản thân từng cá nhân thanh niên, là nút thắt cổ chai cho phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Sự thấp kém về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ không chỉ diễn ra trong thanh niên nói chung mà cả trong đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội, cán bộ của các ban ngành. Theo số liệu của Ban chấp hành Tỉnh Đoàn Kon Tum, số cán bộ Đoàn có trình độ văn hoá cấp I chiếm 5%, có trình độ văn hoá cấp II chiếm 24,5%. Tại Lâm Đồng là tỉnh có trình độ dân trí và trình độ phát triển cao hơn thì cũng chỉ có 60,2% đội ngũ cán bộ Đoàn chuyên trách có trình độ cao đẳng - đại học; 40,9% cán bộ có trình độ trung cấp chính trị trở lên. Đây chính là cản trở lớn nhất trong chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ và công tác quy hoạch cán bộ ở Tây Nguyên.

Thực trạng chất lượng giáo dục nói chung và trình độ học vấn của thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên cho thấy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để công tác đoàn kết tập hợp thanh thiếu niên các dân tộc Tây Nguyên đi vào chiều sâu cần: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý nội dung, phương pháp dạy và học. Tạo cơ hội cho thanh niên được thụ hưởng chính sách giáo dục, chú trọng tới nữ thanh niên, thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên nông thôn, thanh niên khuyết tật”. Theo đó, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cần từng bước sắp xếp, quy hoạch, đào tạo và đào tạo lại. Đặc biệt, để thu hút và khuyến khích được sinh viên trẻ, tốt nghiệp khá, giỏi của vùng cũng như vùng khác thì cần có chính sách ưu đãi trong tuyển chọn và có chiến lược lâu dài trong đào tạo. Trong đào tạo cũng như tuyển dụng cần phải quan tâm đầu tư và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số. Đối với giáo viên lớn tuổi chưa đủ chuẩn thì cần có hướng giải quyết chính sách thoả đáng cho về hưu. Từ “đặc thù” của địa phương đặt ra yêu cầu phải tổ chức bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là điều cực kỳ quan trọng trong việc tiếp cận, cũng như nâng cao chất lượng giáo dục học sinh - nhất là học sinh dân tộc thiểu số. Đặc biệt cần phát huy cách làm sáng tạo của ngành giáo dục Đăk Lăk, Kon Tum trả lương cho một nhân viên dân tộc thiểu số để vừa phiên dịch, vừa vận động học sinh đến lớp hỗ trợ giáo viên.

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: các Sở Giáo dục - Đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục các cấp và xây dựng tiêu chí đánh giá, phân loại cán bộ quản lý giáo dục ở các cấp/bậc học. Cuối năm học, tiến hành lấy ý kiến đối với hiệu trưởng các trường về công tác quản lý, trong đó chú trọng công tác nâng cao chất lượng giáo dục. Từ đó đề xuất luân chuyển, điều chuyển và thay đổi chức vụ đối với cán bộ quản lý không đạt yêu cầu.

Với đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số thì khó khăn nhất chính là đảm bảo học sinh đến lớp, tạo điều kiện học tập để các em không bỏ học và nắm được nội dung cơ bản của chương trình chuẩn phổ thông. Do đó, đối với cấp tiểu học phổ thông phải nhanh chóng tách các trường có nhiều cấp học thành các trường chỉ có một cấp học; tách trường phổ thông Dân tộc Nội trú ra khỏi trường trung học phổ thông bình thường. Bên cạnh đó, quy hoạch lại các điểm trường lẻ, lớp học ở các buôn làng để mở rộng đầu tư tăng cường quản lý cũng như trang thiết bị dạy học cơ bản. Việc quy hoạch mở rộng hệ thống trường phổ thông Dân tộc Nội trú và bán trú xã là một hướng đi đúng. Đây chính là mắt xích quyết định trong việc thực hiện chương trình riêng phù hợp, rèn luyện kỹ năng tiếp nhận kiến thức và tư duy bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.

Trong giáo dục phổ thông cũng như giáo dục đào tạo cao đẳng - đại học tại các tỉnh Tây Nguyên đều có yêu cầu cấp thiết về bộ sách giáo khoa phù hợp với đặc thù của vùng. Theo đề xuất của các cấp quản lý giáo dục trên địa bàn thì nội dung kiến thức trong sách giáo khoa cần được điều chỉnh theo hướng nhẹ hơn, phù hợp với khả năng của học sinh dân tộc thiểu số. Nhiều cán bộ quản lý giáo dục ở Tây Nguyên đề xuất chương trình tiểu học nên được kéo dài 6 năm dành cho học sinh dân tộc thiểu số (trong đó 1 năm để học sinh học và rèn luyện tiếng Việt).

Đối với giáo dục trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học: trước mắt, các cấp chính quyền phải xây dựng được chiến lược phát triển cơ cấu ngành kinh tế của địa phương và từ đó định hướng phát triển cơ cấu ngành đào tạo cho các trường trên địa bàn. Mặt khác, để từng bước nâng cao trình độ đào tạo cũng có nghĩa là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì ngay từ bây giờ phải đầu tư trang thiết bị, nâng cấp hệ thống trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp của vùng. Tất nhiên trong quy hoạch các tỉnh phải lưu ý sự phân bố mạng lưới trường trên lãnh thổ và ngành đào tạo. Đối với đào tạo đại học có thể giữ nguyên nội dung đào tạo nhưng giãn chương trình, giãn thời gian, tức là có thời gian thích hợp tạo điều kiện cho sinh viên dân tộc thiểu số khi ra trường tiếp nhận được đầy đủ lượng kiến thức như sinh viên người Kinh. Điều này là giải pháp lâu dài cho chiến lược nâng cao chất lượng lao động của người dân tộc thiểu số và chiến lược đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời thể hiện sự tôn trọng thực sự đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung. Tất nhiên, việc thực hiện phải dựa trên cơ sở Tây Nguyên có trường đại học dành riêng cho nhóm dân cư này.

Cần tiếp tục đổi mới hình thức, nội dung phương pháp và tiếp tục thực hiện một số chế độ chính sách có tính “đặc thù” đối với học sinh là thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số. Tăng cường dạy tiếng Việt, triển khai chương trình tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp mẫu giáo 5 tuổi để chuẩn bị tâm thế cho các em vào học lớp 1. Đến cuối năm học, khi nhận học sinh vào lớp 1, các trường Tiểu học phải nghiệm thu kỹ năng tiếng Việt của học sinh. Nếu không đạt yêu cầu thì hiệu trưởng trường Mầm non phải tổ chức dạy trong hè. Tổ chức dạy theo nhóm đặc biệt đối với những học sinh dân tộc thiểu số mất căn bản ở các lớp dưới: chưa biết đọc, viết, hiểu tiếng Việt... Đây chính là giải pháp quyết liệt để Tây Nguyên tháo gỡ những khó khăn trước mắt, duy trì thành quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục, đồng thời là chiến lược quan trọng để định hướng phát triển toàn diện, bền vững nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách cử tuyển đào tạo cho đối tượng thanh niên dân tộc thiểu số, giúp Tây Nguyên phần nào chủ động có được nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đảm bảo được sự cân đối trong cơ cấu cán bộ các ngành, là động lực vươn tới cho lao động Tây Nguyên trong điều kiện còn chưa bằng với mặt bằng chung của cả nước và phần nào thể hiện sự quan tâm ưu ái của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn còn nhiều khó khăn.

TS. Lê Văn Đính

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,468,277


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs