Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/06/2010
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược
Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng chung sống, đoàn kết giúp đỡ nhau trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi việc thực hiện đúng đắn vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ có vị trí chiến lược. Việc thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng đất nước 25 năm qua vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách mạnh mẽ có hiệu quả. Tuy nhiên trong nhiều lĩnh vực nhiều nội dung và các hình thức biện pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của chúng ta còn nhiều bất cập ở cả nhận thức và hành động. Để khắc phục những điều đó, tiếp tục thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc và vị trí chiến lược, chúng ta có nhiều việc phải làm, trước hết cần tập trung mấy điểm chính sau.
 
1. Nhận thức sâu hơn, đầy đủ, đúng đắn, rộng rãi hơn vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay.

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta từ khi mới thành lập cũng như suốt hơn 80 năm nay luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau và thực chất phải là một. Vấn đề dân tộc, người ta có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như triết học, lịch sử, văn hoá, xã hội, dân tộc học, tâm lý học, chủ nghĩa xã hội khoa học… Từ việc nghiên cứu đó giúp chúng ta hiểu rõ những đặc điểm của quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tìm ra những vấn đề có tính quy luật của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, quá trình phát triển phồn vinh và gắn bó với nhau giữa các dân tộc. Sự thiết lập quan hệ đoàn kết, bình đẳng, dân chủ, hữu nghị, đồng thuận giữa các dân tộc được dựa trên những cơ sở chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội suốt quá trình lịch sử. Dân tộc Việt Nam trải qua quá trình hình thành dựng nước và giữ nước, với nhiều thử thách và ngày nay đang từng bước phát triển vững chắc trên con đường đi tới xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Dân tộc Việt Nam đang hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa và phát huy tất cả những tinh hoa của các dân tộc đã chung đúc từ mấy ngàn năm lịch sử, trên cơ sở làm chủ của toàn thể nhân dân các dân tộc, trên cơ sở đoàn kết, gắn bó nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…

Vì vậy vấn đề dân tộc là toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần dân tộc, là lịch sử, văn hoá, xã hội, tương lai cuả các dân tộc, là quan hệ xã hội và quan hệ tộc người gắn bó mật thiết với nhau. Lê Nin từng cho rằng “Trong chừng mực mà các dân tộc khác nhau còn chung sống trong một quốc gia, thì họ gắn bó với nhau bằng hàng ức, hàng triệu mối quan hệ về kinh tế, pháp luật và tập quán”.

Đảng ta xác định sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với củng cố, phát triển cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Khái quát những luận điểm trên, cho thấy mấu chốt của vấn đề dân tộc là toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, lịch sử… của một dân tộc, là quan hệ giữa các dân tộc dựa trên sự hài hoà các lợi ích của những thành viên sống trong cộng đồng các dân tộc. Như vậy vấn đề dân tộc bao hàm trong đó nhiều yếu tố, trong đó cơ bản lâu dài nhất vẫn là mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc trong một cộng đồng quốc gia đa dân tộc. Đó là quan hệ thật sự dân chủ, bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển để tạo nên khối đoàn kết chặt chẽ.

Đoàn kết dân tộc được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rất cụ thể, đó là tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở chúng ta, đoàn kết là sức mạnh then chốt của thành công. Đặc biệt Bác Hồ giành những tình cảm và niềm tin sâu sắc nhất vào khối đại đoàn kết các dân tộc. Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc ngày 10/01/1955 Bác chỉ rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để dấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ đoàn kết là một chính sách dân tộc, phải đoàn kết rộng rãi và phải đoàn kết lâu dài. Đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị. Đoàn kết thật sự chỉ tạo ra sức mạnh vật chất, tinh thần cho đấu tranh thống nhất đất nước và độc lập của Tổ quốc, đặc biệt cho xây dựng và bảo vệ nước nhà - ngôi nhà chung của các dân tộc Việt Nam. Từ những quan niệm trên, ta có thể hiểu vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc ở những khía cạnh chính như: Về mặt xã hội, đoàn kết dân tộc là sự đồng thuận của các thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đang sống trong xã hội cho dù còn những khác biệt nhất định do nhiều nguyên nhân, nhưng vẫn gắn bó với nhau cùng hướng tới mục tiêu chung là xây dưng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, xã hội văn minh.Về mặt kinh tế, đoàn kết dân tộc là sự tập hợp mọi khả năng, thế mạnh, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển đi tới khắc phục dần tình trạng chênh lệch quá lớn về đời sống và mức sống, cùng có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Về mặt văn hoá, đoàn kết dân tộc là tôn trọng những bản sắc văn hoá, các tinh hoa văn hoá các dân tộc xây dựng một truyền thống, một nền văn hoá Việt Nam toàn diện, tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thật sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Về mặt tâm lý, đoàn kết dân tộc là sự bao dung, độ lượng, tôn trọng lẫn nhau, thật sự dân chủ, bình đẳng, không kỳ thị dân tộc, không dân tộc hẹp hòi.

2. Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc hiện nay.

Phải khẳng định Đảng, Nhà Nước ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thực hiện tốt chính sách dân tộc đoàn kết, bình đẳng hỗ trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển. Điều đó được chứng minh bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giúp chúng ta làm Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công; đánh thắng thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Thực tế 25 năm đổi mới vừa qua, chính sách ấy đã được đổi mới và đi vào cuộc sống trong những lĩnh vực với các mức độ kết quả nhất định.

Để thật sự coi đây là vấn đề chiến lược, vừa rộng vừa lâu dài như Hồ Chí Minh đã xác định, việc giải quyết vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc hiện nay cần tập trung làm tốt mấy việc chính sau:

Một là: Có chiến lược cụ thể, tích cực phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.

Cần nghiên cứu kỹ các vùng dân tộc miền núi để có chiến lược phát triển k-nh tế - xã hội ở đó một cách cụ thể, khơi dậy tính tích cực, tạo ra những bứt phá cần thiết. Khi thực hiện chiến lược ấy, đồng bào các dân tộc tại chỗ phải thực sự là những chủ thể thực hiện và thụ hưởng những thành tựu kinh tế của chiến lược ấy. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải toàn diện, đồng bộ, căn cứ vào những đặc điểm kinh tế, tự nhiên, văn hoá, lịch sử, tập quán, lối sống, điều kiện sống, trình độ nhân dân và người lao động để có hình thức, bước đi thích hợp vững chắc, lâu dài tránh chủ quan xa rời thực tế, quan liêu áp đặt. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi phải từ những tiềm năng thế mạnh ở đó với sự phát huy, khai thác nó trong chiến lược chung của đất nước. Khắc phục tình trạng thực hiện một cách tách biệt thiếu cơ bản, thiếu đồng bộ, thiếu lâu dài. Mục tiêu cụ thể và mục tiêu lâu dài của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội miền núi vùng dân tộc thiểu số phải được xác định cụ thể, chính xác để đồng bào tin tưởng phấn khởi nỗ lực phấn đấu. Từ đấy lòng tin của nhân dân được củng cố.

Hai là: Thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ, bình đẳng đồng thuận và đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đây vừa là vấn đề lý luận, vừa là vấn đề thực tiễn. Đảng ta chủ trương dân chủ là mục tiêu, là động lực của cách mạng. Dân chủ để đoàn kết, tạo ra sức mạnh.

Muốn đoàn kết thật sự phải dân chủ thật sự. Dân chủ là yếu tố cơ bản, lâu dài để có sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết và đoàn kết gắn bó với nhau. Thiếu dân chủ, thiếu tôn trọng nhau và nếu như còn hiện tượng mất dân chủ, áp đặt thì không thể có đoàn kết thật sự.

Bình đẳng là điều kiện cơ bản trong mọi mối quan hệ nói chung và ngay cả mối quan hệ giữa các dân tộc nói riêng. Để có đoàn kết thật sự phải có bình đẳng thật sự. Bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau, ngang nhau mà là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; về trách nhiệm và hưởng thụ. Khắc phục dần sự cách biệt quá xa về đời sống, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng là từng bước thực hiện bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc. Những vấn đề quan trọng như vậy phải được tôn trọng và không ngừng chăm lo phát triển một cách thường xuyên, chu đáo ngay trong từng chủ chương, chính sách khi thực hiện. Trên cơ sở bình đẳng để xây dựng và củng cố chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng thuận phản ánh trạng thái tư tưởng, tình cảm nhận thức và hành động của mọi thành viên trong xã hội. Trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc, đồng thuận giữa các dân tộc về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…. là những yếu tố cơ bản bảo đảm đoàn kết dân tộc. Tất nhiên không thể có đồng thuận tuyệt đối mà cần có đồng thuận cơ bản. Sự đồng thuận của đại đa số các tầng lớp nhân dân các dân tộc về những mục tiêu chung, những lợi ích chung là cơ sở niềm tin cho đoàn kết dân tộc lâu dài, rộng rãi và vững chắc.

Thực tế cho thấy, các dân tộc thật sự dân chủ (dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng) thì trình độ bình đẳng giữa các dân tộc ngày càng nâng lên, cũng như đồng thuận giữa các dân tộc về nhận thức và hành động sẽ tạo thành khối đại đoàn kết vững chắc vừa rộng rãi, vừa lâu dài như Bác Hồ mong muốn.

Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần gắn với thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mở cửa, hội nhập với thế giới hiện đại như hiện nay thì việc thực hiện chiến lược dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đặt ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi tư duy mới, thoát khỏi những nhận thức, quan niệm và cách làm chủ quan, phiến diện trì trệ thiếu những bứt phá trên nền chiến lược chung của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc ở nước ta.

Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cao của các dân tộc thiểu số.

Con người bao giờ cũng là nhân tố quyết định cho mọi sự phát triển xã hội. Trong nhiều cái khó khăn thiếu thốn của các dân tộc thiểu số để thực hiện dân chủ, bình đẳng, thực hiện xã hội dân giàu, nước mạnh, văn minh, tiến bộ là do nhân tố con người. Có nhiều nguyên nhân mà cán bộ là người các dân tộc thiểu số hiện còn rất thiếu và yếu lâu nay chúng ta vẫn chưa khăc phục được. Trong khi đối với đồng bào lại rất cần có đội ngũ cán bộ và nguồn lao động có trình độ văn hoá khoa học-kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển ở chính quê hương, nơi đồng bào sinh sống. Cùng với cán bộ là trình độ dân trí, đó là cơ sở để có nguồn nhân lực có tri thức, được đào tạo, đủ khả năng làm chủ quá trình tiếp thu tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào phát triển sản xuất, đời sống ở địa phương.

Cho nên, một trong những vấn đề chiến lược mang tính quyết định là cán bộ và trình độ dân trí , nguồn nhân lực có tri thức ở các vùng dân tộc thiểu số. Giải quyết vấn đề này có nhiều điểm liên quan, trọng tâm là chủ trương chiến lược về giáo dục, đào tạo vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Song đây lại là vấn đề còn nhiều lúng túng trong định hướng phát triển cần được tháo gỡ hiện nay.

Bốn là: Chăm lo cụ thể đời sống dân sinh, cải thiện thực tế đời sống vật chất, tinh thần vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chúng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhưng thực tế bên cạnh một số nơi, một vài dân tộc tiến bộ, đời sống được nâng cao thì đa số các vùng dân tộc miền núi vẫn còn nghèo khó, lạc hậu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, song vấn đề cần đổi mới trong chính sách đầu tư, quản lý, điều hành, giám sát việc đầu tư, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của đồng bào, khắc phục tâm lý ỷ lại, trông chờ, tự ty, thụ động của nhiều người. Có biện pháp làm cho sự đầu tư hỗ trợ của cả nước và các dân tộc anh em trở thành sức mạnh, nguồn sinh lực thúc đẩy đồng bào tự phát triển bền vững. Đồng thời đề cao trách nhiệm của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các dân tộc anh em thường xuyên sát cánh, bám chắc thực tế để có những hỗ trợ, giúp đỡ thiết thực, có hiệu quả.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Điều cốt lõi đặt ra là thực hiện hài hoà lợi ích giữa các dân tộc để các dân tộc thật sự đoàn kết, bình đẳng không ngừng sáng tạo đóng góp tài năng sức lực cho sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, giữ vững Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ giàu mạnh của các dân tộc.

PGS. TS Trần Quang Nhiếp

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,901,042


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs