Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 14/04/2010
Thực hiện Nghị quyết 30 a ở Mường Khương
Mường Khương là một huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Lào Cai. Địa hình cao, dốc, bị chia cắt bởi núi cao, vực sâu, xen kẽ có các dải thung lũng hẹp; khí hậu khắc nghiệt. Dân số 10.215 hộ, 52.030 khẩu gồm 14 dân tộc anh em chung sống, trong đó gần 90% là đồng bào các dân tộc thiểu số (Dân tộc Mông: 41,78%, Nùng 26,8%; Dao 5,75%; Dáy 3,74%, còn lại là các dân tộc ít người như: Tu Dí, Phù Lá, Hoa, Lô Lô, Cao Lan, Xa Phó...). Về kinh tế có gần 90% dân số làm nông nghiệp và các ngành nghề thủ công nhỏ.

Khắc phục khó khăn của một huyện vùng cao, huyện đã sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Trung ương, tỉnh thông qua các Chương trình, Dự án; tập trung đầu tư giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Trong những năm gần đây đã đạt được những kết quả khả quan. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-TTg ngày 27/12/2008 của Chính phủ, Mường Khương đã thực hiện hiệu quả với những bước tiến vững chắc, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

Trong năm 2009, tổng kế hoạch vốn Trung ương giao cho huyện Mường Khương là 28.178 triệu đồng. Huyện đã chọn đầu tư 33 công trình trọng điểm như: nước sạch sinh hoạt, 5 công trình; thuỷ lợi 09 công trình, giao thông 06, điện 05,trường học 8. Đến thời điểm này, huyện đã tổ chức khởi công 25 danh mục công trình, đạt 75,75% kế hoạch đề ra với tổng kinh phí 13,615 tỷ đồng. Bên cạnh việc thực hiện các công trình hạ tầng, huyện đã tiến hành giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu chè, thuốc lá; chăm sóc bảo vệ rừng; trồng rừng kinh tế; chăm sóc trâu, bò đực giống; chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Người nông dân trong khu vực dự án cũng được tập huấn kiến thức và áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất thu được hiệu quả cao về năng suất cây trồng, vật nuôi và giảm được sức lao động.

Nghị quyết 30a mặc dù mới được triển khai ở Mường Khương nhưng đã cho thấy tác dụng tích cực. Trong hơn 1 năm qua, từ nguồn vốn này, đã có 545 hộ nghèo có nhà tạm được hỗ trợ để sửa chữa và làm mới nhà. Có hàng trăm hộ gia đình nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo và làm giàu. Một số vùng chuyên canh cây ăn quả, chè, thảo quả đã được hình thành và phát huy hiệu quả. Điểm đặc biệt trong việc thực hiện Nghị quyết 30a ở Mường Khương là huyện đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của cả cộng đồng và người dân hưởng lợi tham gia. Một số xã như: Bản Lầu, Bản Xen, Lùng Vai, Tả Ngài Chồ đã hoàn thành và đã thanh toàn 100% tiền hỗ trợ cho thấy đây là biện pháp đúng đắn, có tác dụng to lớn.

Tính đến hết năm 2009, tốc độ phát triển kinh tế của huyện đạt 11%; GDP bình quân 5,2 triệu người/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Nông, lâm nghiệp 53,9%; công nghiệp, xây dựng là 13,19%; dịch vụ, thương mại, du lịch là 32,9%. Đặc biệt, trong sản xuất nông, lâm nghiệp có bước phát triển vượt bậc, đã làm tốt công tác quy hoạch và đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hoá rõ nét như mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân. Tiêu biểu như: Vùng lúa đặc sản Séng Cù trồng 700 ha, sản lượng gần 3.000 tấn, giá trị hàng hoá đạt khoảng 25 tỷ đồng; Vùng ngô hàng hoá với diện tích là 6.100 ha, tỷ lệ giống lai kỹ thuật chiếm trên 90%, sản lượng gần 18.000 tấn, trị giá trên 60 tỷ đồng; Vùng chè Shan trên 800 ha, diện tích chè kinh doanh là 500 ha, chất lượng khá, thị trường tiêu thụ ổn định, doanh thu xuất khẩu đạt trên 9 tỷ đồng. Đến nay, huyện tiếp tục mở rộng diện tích chè tập trung ở vùng hạ huyện, phấn đấu đến năm 2015 đưa diện tích chè toàn huyện đạt khoảng 2.000 ha; Hình thành vùng nguyên liệu thuốc lá với diện tích quy hoạch 800 ha/năm, riêng năm 2009 đã trồng 172 ha, cho kết quả tốt; vùng cây ăn quả Dứa (700 ha); Chuối Mô (200 ha) đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, đàn gia súc, gia cầm tăng trưởng khá; việc trồng rừng, bảo vệ rừng được đẩy mạnh. Trong năm 2009, giao khoanh nuôi bảo vệ rừng: 12.418 ha, trồng mới được 634 ha đạt 105% kế hoạch). Tỷ lệ tán che phủ đạt 39%. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được quan tâm đầu tư (riêng năm 2009 được đầu tư 158 tỷ đồng từ 17 nguồn vốn với trên 350 danh mục).

Cơ sở hạ tầng của các xã cơ bản được hoàn thiện, trong đó đã có 14/16 xã có đường nhựa đến trung tâm xã; 15/16 trụ sở xã đã và đang xây dựng theo mẫu chuẩn; 16/16 xã với 159/226 thôn, bản được sử dụng điện lưới Quốc gia; 59/59 trường học ở trung tâm xã được xây dựng kiên cố. Bệnh viện đa khoa, phòng khám khu vực, các Trạm y tế xã cơ bản đã được đâu tư theo hướng chuẩn hoá, 80% kênh mương được kiên cố hoá; 70% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng 16/16 xã. Huyện đã được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở cả 16/16 xã. Có 07 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia; 08/16 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế.

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 30a đã góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 63,36% (năm 2005) còn 36% như hiện nay. Số hộ khá tăng lên. Số hộ tái nghèo hàng năm thấp và ngày càng giảm dần.

Tuy đã đạt được những kết quả đáng mừng như vậy nhưng Mường Khương vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục như: Tốc độ phát triển kinh tế còn chậm; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương; trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; đời sống nhân dân nhất là ở các xã vùng cao, vùng sâu còn nhiều khó khăn; một số phong tục, tập quán lạc hậu còn tồn tại ảnh hưởng nhiều đến đời sống của nhân dân; vẫn còn một số tệ nạn xã hội có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt đời sống… Chính vì vậy, Mường Khương cần khắc phục được những hạn chế đã nêu để Nghị quyết 30a thực sự phát huy được hết hiệu quả đối với nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo bền vững cho những vùng khó khăn, đưa huyện thoát khỏi tình trạng huyện nghèo như hiện nay.

Mai Chi

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,919


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs