Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 09/04/2010
Dân tộc Hà Nhì
Dân tộc Hà Nhì còn có tên gọi khác là U Ní, Xá U Ní, có khoảng 17.500 người, cư trú ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai, gồm 3 nhóm địa phương: Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen. Ngôn ngữ Hà Nhì thuộc nhánh ngôn ngữ Di, ngữ hệ Tạng-Miến. Người Hà Nhì đã từng có chữ viết, nhưng bị thất lạc khi di cư từ Tứ Xuyên xuống phía Nam. Giờ đây họ sử dụng chữ cái Latinh làm chữ viết.

Người Hà Nhì trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào mương đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà... Chăn nuôi là một nghề phát triển. Các nghề thủ công như đan lát, dệt vải cũng rất phổ biến. Họ tự túc được vải mặc, phụ nữ Hà Nhì rất chăm chỉ và giỏi việc canh cửi tằm tơ, họ tự đảm nhận mọi công đoạn cho đến lúc làm ra tấm vải. Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài, 5 thân, xẻ từ sườn xuống chân. Chiếc mũ, khăn được trang trí bởi nhiều cúc bạc, nhiều hạt cườm, nhiều tua rua bằng các loại chỉ màu sặc sỡ. Người Hà Nhì tự làm lấy váy áo cho mình, bằng vải bông nhuộm chàm màu đen, màu xanh hoặc bằng vải láng. Vào những dịp lễ tết, hội hè, họ mặc thêm áo ngắn kiểu gilê ở bên ngoài. Trên ngực áo, phía phải, gắn thêm những đồng xu bằng bạc hoặc cúc bằng nhôm.

Trai gái Hà Nhì được quyền tự do lựa chọn bạn đời và tự quyết định hôn nhân của mình. Sau khi các thủ tục cần thiết đã được chuẩn bị hoàn tất, đám cưới sẽ được thông báo tại một cuộc họp gần nhất của bản để mọi người nắm được sự kiện quan trọng này. Cả bản coi đây là việc chung, mọi người phải có mặt chứ chủ hôn không phải đi mời từng người. Chuẩn bị đến ngày cưới, cả hai bên mời cô, dì chú bác về để cùng lo đại sự. Khi về, tuỳ theo điều kiện của mỗi gia đình mà mang theo gạo, rượu, con gà… Công việc của họ hàng là đi cắt cỏ ngựa, lo bàn, ghế, xoong nồi, bát đũa… Ngày cưới chú rể đi chân đất, đầu đội khăn xếp cuốn bằng vải chàm, mặc hai lớp áo, bên trong áo trắng bẻ cổ ra ngoài, bên ngoài là áo đen truyền thống của dân tộc. Cô dâu mặc quần, áo đúng theo bản sắc thiếu nữ dân tộc Hà Nhì, đầu chùm khăn kín, đeo thắt lưng dài và cũng đi chân đất. Mỗi cặp vợ chồng phải trải qua hai lần cưới. Ngay sau lần cưới thứ nhất, cô dâu được đổi họ theo bên chồng và về ở nhà chồng, nhưng cũng có nơi, con trai lại phải ở rể nhà vợ. Thời gian ở rể dài hay ngắn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai họ, trên cơ sở những khó khăn và thuận lợi của nhà gái. Lần cưới thứ hai và cũng là lần cuối, được tổ chức vào một thời điểm thích hợp nhất, khi điều kiện kinh tế cho phép, thậm chí sau hàng chục năm chung sống. Lúc ấy dù họ có nhiều con, đông cháu, đều không quan hệ gì tới hôn lễ.

Người Hà Nhì có nhiều họ, mỗi họ gồm nhiều chi. Vào dịp tết hàng năm có tục cả dòng họ tụ tập lại nghe người già kể tộc phả của mình, có dòng họ nhớ được về xưa tới 40 đời. Tên của người Hà Nhì thường đặt theo tập tục là lấy tên người cha, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm.

Người Hà Nhì không có tục thờ cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình. Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận. Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út. Khi cha, mẹ chết thì buồng ngủ của người đó sẽ được rỡ bỏ toàn bộ hoặc từng phần; ít nhất cũng phải tháo rút tượng trưng vài tấm ván hoặc một bức vách nào đấy. Trước lúc phát tang ra bên ngoài, thì ở trong nhà bàn thờ của gia đình phải hạ xuống, cất đi. Thi hài người chết được đưa xuống bếp, đặt nằm tạm trên chiếc chõng mới làm, “đợi” đến ngày tốt và giờ tốt mới được đem chôn. Giờ “tốt” đó thường trùng với cái giờ lúc người chết tắt thở, đồng bào cho rằng nếu không thế thì người chết sẽ “tái sinh”, đầu thai thành các giống vật hung dữ quay trở về nhiễu hại cuộc sống gia đình, làng bản.

Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất, đông ấm, hè mát. Người Hà Nhì thường chọn các sườn núi để dựng nhà. Việc làm nhà trình tường của bất kể hộ nào đều coi là việc làm chung của thôn. Mọi công việc từ đào móng, trình tường đến dựng và lợp mái đều được làm theo kiểu đổi công. Nghi lễ khởi công nhà rất đơn giản nhưng lại có ý nghĩa. Sau khi chọn được ngày, trước giờ đào móng, gia chủ nhà thả 3 hạt thóc xuống nền nhà tượng trưng cho con người (con đàn cháu đống), chăn nuôi (đầy đàn), hạt thóc (được mùa). Sau 3 giờ làm lễ, đồng bào bắt đầu đào móng độ sâu khoảng 1m, xếp đá để tránh ẩm ướt và có độ bền. Đồng bào Hà Nhì thường dùng sải tay để đo đạc trong khi làm nhà. Bộ khung nhà khá đơn giản. Vì kèo cơ bản là kiểu vì kèo ba cột. Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêm một cột hiên nên trở thành vì bốn cột. Tường trình rất dày. Nhà không có cửa sổ, cửa ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch về một bên. Nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian. Có hiên rộng ở mặt trước nhà. Trong nhà chia theo chiều dọc, nửa nhà phía sau là các phòng nhỏ. Nửa nhà phía trước để trống, một góc nhà có giường dành cho khách, ở đây còn có bếp phụ. Cũng có trường hợp hiên được che kín như là một hành lang hẹp thì cửa mở ở chính giữa. Những trường hợp như thế này thuộc về gian chính giữa hoặc thêm một gian bên cạnh có sàn cao khoảng 40cm để dành cho khách, ở đây cũng có bếp phụ. Do ở nơi khí hậu quanh năm sương mù ẩm ướt nên bếp của người Hà Nhì bao giờ cũng nấu trong nhà vừa ấm áp và làm cho cây cột chắc bền.

Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ. Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy hay nát-xi vào ban đêm. Con trai gảy đàn La Khư. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui. Người Hà Nhì có nhiều loại bài hát như các bà mẹ hát ru, thanh niên nam nữ hát đối... Có hát đám cưới, hát đám ma, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quý, hát trong ngày tết... Bài hát đám cưới của người Hà Nhì dài tới 400 câu. Có các điệu múa lên nương, múa dệt vải, múa đợi mưa, múa vào mùa, múa trông trăng, múa giã bạn.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,917,855


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs