Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 09/04/2010
Mối quan hệ giữa truyền thống các dân tộc với các chính sách dân tộc của nước ta
Sự trở về với truyền thống. Khi làm chính sách hay Nghị Định hoặc một vấn đề gì đó về dân tộc thiểu số đều cần đến sự suy xét và nghiên cứu một cách cụ thể từ nhiều góc độ của các vấn đề dân tộc. Đơn cử một việc như tư duy luôn trở về truyền thống là nguyện vọng cũng là qui luật và nét nổi bật trong tiến trình lịch sử Việt Nam, một trong những động cơ trong các cuộc đấu tranh giành lại quyền của các tộc người. Bối cảnh lịch sử của các dân tộc Việt Nam luôn luôn đứng trước hiểm hoạ ngoại xâm đã khiến cho quá trình chống đồng hoá trở về nguồn gốc để tạo ra sức mạnh.

Khi trở về nguồn, người ta hay say sưa về những điều hay cái đẹp của dân tộc mình. Một điều rất dễ hiểu là không bao giờ người ta lại quay về với các xấu và cái lạc hậu. Điều đáng tiếc là nhiều nhà nghiên cứu hay các nhà hoạch định chính sách trong những năm qua vẫn chưa đủ khả năng để đưa ra những vấn đề thích hợp trong sự phát triển tổng thể chung của các dân tộc, nên mới để lại cái giá phải trả cho gánh nặng truyền thống quá đồ sộ như hiện nay. Chúng ta không dám thừa nhận bản chất của sự trở về truyền thống của người nông dân. Bản sắc văn hoá dân tộc hiện nay vẫn là bản sắc nông dân. Bản sắc dân tộc trong kiến trúc vẫn là ngôi nhà nông dân, có những người khá giả hay có chút điều kiện,( kể cả các quan chức hiện nay) phấn đấu làm cái nhà đó để thưởng thức chứ không phải để ở. Bản sắc dân tộc trong kinh tế vẫn là lấy nông làm gốc, lấy vật đổi vật. Những thí dụ có thể kể ra rất nhiều. Trọng tâm ở đây, trong khuôn khổ nhỏ hẹp chỉ khoanh lại trong mối quan hệ triết lý trong lịch sử.

Ảnh hưởng của tàn dư quan liêu hóa trong lịch sử:

Trước đây nhiều người lầm tưởng là sự quan liêu hoá thời phong kiến ở nước ta là sự sao chép lại của Trung Quốc vào thời trung đại. Xem xét kỹ lại thì mới thấy rằng đó cũng chỉ là bao bọc bởi một lớp áo mới. Các vương triều Trung Quốc đều có quốc hiệu. ở nước ta lúc đầu cũng có, như nhà nước Vạn Xuân, nhà Đinh lập nước Đại Cồ Việt v.v. nhưng thực chất dòng họ nào lập nước, tên dòng họ đó bao trùm thay cho quốc hiệu: Nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần, v.v. Phong kiến Trung Quốc có chế độ một hoàng hậu, phong kiến Việt Nam nhiều hoàng hậu. Phong kiến Việt Nam không có một giai tầng quý tộc lâu đời thâm căn cố đế, những người tạo dựng vương triều đều xuất thân từ “nghèo hèn” như nhà Mạc, nhà Trần… từ những người đánh cá, v.v. Những thần dân tham gia vào quá trình quan liêu hoá này thường được tuyển chọn qua thi cử, phần lớn đều xuất thân “nghèo hèn”. Điều đó đã tạo nên cho tầng lớp quan liêu một thực tế là phải lãng quên nguồn gốc xuất thân của mình khi tham gia vào tầng lớp quan: Chính họ lại cố gắng xây dựng nên một sự ngăn cách với dân. Trở về với truyền thống nhưng ngăn cách hẳn với nguồn gốc xuất thân, tạo nên những ánh hào quang của huyền thoại. Đinh Bộ Lĩnh với cờ lau, Lý Công Uẩn với cây mận, Lê Lợi với dòng chữ trên lá, với sự thừa hưởng gươm thần… Với hai đặc điểm nói ở hai phần trên, sự quan liêu hoá này được đem ban phát, áp dụng đối với các tộc ít người tạo nên một tầng lớp trung gian xa dân và ngăn cách với dân để làm phên dậu cho triều đình.

Chế độ mới đã biến những thần dân thành công dân. Đây là sự tiêm nhiễm của sự quan liêu hoá cho nên chúng ta đã xem nhẹ việc xây dựng một xã hội công dân.
Quan điểm không có gì quý hơn Độc lập-tự do: Triết lý lịch sử về quan liêu hoá và nhà nước hoá đã dẫn đến việc chính trị học thay cho dân tộc học. Về mặt dân tộc học, các dân tộc đều bình đẳng, ít ra là về mặt pháp lý. Nhưng về mặt chính trị học với cơ chế tập trung và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, thì trong điều kiện cộng cư cài răng lược, các dân tộc ít người, số lượng chỉ tính được hàng chục, làm sao có thể có chuyện đối thoại bình đẳng với các dân tộc ít người khác với số lượng tính đến hàng ngàn, hàng vạn. Mặt khác ngay cả chính trị học do sự chỉ đạo của triết lý lịch sử quan liêu hoá nên cũng không muốn phân biệt đâu là dân tộc học và đâu là dân tộc học ứng dụng.

Trong quá trình cách mạng, chúng ta đã gây dựng nên một đội ngũ cán bộ các dân tộc ít người. Đó là một thành tựu đáng tự hào của cách mạng Việt Nam. Từ lâu, chúng ta đã nhận thức được là phải xoá bỏ tệ quan liêu và gần đây, chúng ta lại rất kiên quyết xoá bỏ tệ quan liêu. Quyết tâm thì cao, song sau bao nhiêu biện pháp chúng ta vẫn không xoá bỏ đượcư Đó là điều cần phải nghiên cứu. Nhổ cỏ phải diệt tận gốc, nếu không thì cỏ dại vẫn cứ mọc lại. Thay một quan liêu này đưa vào một người khác chân chất, trung thực, thì trong sự vận hành của guồng máy quan liêu hoặc là người này phải bị cuốn hút vào trong sự vận động để trở thành một kẻ quan liêu mới, hoặc là tự ý thức được mình là vật trang sức, phải tự rút lui hoặc nhường bước cho kẻ khác. Hiện nay chúng ta thiếu hẳn một sự thể chế hoá bằng luật pháp nhằm ngăn cản những người cầm quyền lộng quyền và lạm quyền. Bộ mặt của một dân tộc ngoài việc nhìn qua những gương mặt của các cán bộ quản lý hành chính, các tướng lĩnh, các anh hùng chiến đấu, còn phải là gương mặt của đội ngũ khoa học-kỹ thuật, của những nhà hoạt động văn hoá giáo dục. Triết lý lịch sử về sự quan liêu hoá đã làm cho những người này, nếu đã trở thành “quan” thì cũng bị vô hiệu hoá, bụt chùa nhà không thiêng. Nhiều trường hợp công lao đào tạo trở thành một sự lãng phí lớn. Việc gợi lại truyền thống cũ nhiều lúc trở thành phản truyền thống. Ngoài truyền thống chống xâm lược, ngày nay các dân tộc cần truyền thống xây dựng, truyền thống phát triển. Ngày xưa đói người ta có thể đi làm cách mạng, ngày nay đói các dân tộc có thể chấp nhận sự mù chữ, họ sẽ không đi học. Triết lý lịch sử về quan liêu hoá có tính chất che dấu một thực trạng chưa được đẩy lên ngang tầm của tư tưởng. Nhiều điều hay vẫn còn đọng lại trên các báo cáo, chủ trương. Nhân dân các dân tộc đồng thời là những công dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, nhưng không đồng thời trên đường phát triển của lịch sử, có những xuất phát điểm khác nhau. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa từ bỏ về mặt chế độ tư bản chủ nghĩa chứ không đồng nghĩa với sự xoá bỏ các quy luật của sự phát triển.

Chính sách dân tộc và chính sách quốc gia: Trong một nhà nước nhiều dân tộc như nước ta chính sách quốc gia đồng thời cũng là chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc nhằm mục đích để cho các chính sách này khỏi rơi vào trường hợp đơn giản hoá hoặc áp đặt. Trong một xã hội công dân, quyền tự do của các dân tộc là đặc điểm quan trọng của các chính sách quốc gia, đồng thời cũng là điểm mấu chốt trong chính sách dân tộc. Nếu chính sách quốc gia được hoạch định trong một tổng thể toàn vẹn, trong đó bao gồm sự hiểu biết về dân tộc học, thì ngay trong lòng các kế hoạch ấy đã không thể có một nội dung rập khuôn. Với chính sách xây dựng một xã hội công dân, với nguyên tắc tôn trọng quyền công dân, rõ ràng là không có thể có sự bàn bạc dân chủ, mỗi tộc người đều có quyền sống theo cách của mình. Nhường cơm sẻ áo cho nhau là một tập tục tốt, nhưng nếu nó được thực hiện trên cơ sở của một nhà nước pháp quyền thì các dân tộc mới cảm thấy mình không bị vơ vét và thiệt thòi. Trước khi chưa có sự bình đẳng thực sự về kinh tế-xã hội, các dân tộc đã cảm thấy mọi quyền lợi của mình được bảo đảm về mặt thực tế trước mắt. Sự ban phát hào phóng với những lời hứa là điều tai hại chỉ đưa đến mất lòng tin của các dân tộc. Những thiếu sót về mặt lý trí đã dẫn đến những hiểm hoạ mới nhiều khi rất khác nhau nhưng lại cùng chung một nguồn gốc.

Tính dân tộc thuộc phạm trù lịch sử, còn tính công dân thuộc phạm trù hiện đại, cho nên mọi luật lệ và chính sách là phải quan tâm đến những gì gắn với con người. Tính công dân là sự thể hiện những tư tưởng xã hội chủ nghĩa vào trong thực tế cuộc sống, còn tính tộc người đòi hỏi phải được nâng cao để ngang tầm với thời đại. Chúng ta hay quen dùng một khái niệm trìu tượng là sự “kết hợp”. Một khái niệm chưa rõ ràng về mặt triết học cũng như chưa dứt khoát về mặt lịch sử. Xuất phát từ những nhược điểm đó cho nên có lúc người ta đã đề xuất ở một nơi nào đó có thể từ chế độ mẫu hệ lên thẳng chủ nghĩa cộng sản khoa học. Nếu thế thì việc gì phải xoá bỏ nhà dài để xây dựng nên những căn nhà nhỏ hẹp cho các hộ gia đình. Từ sở hữu tập thể kiểu công xã bậc thấp lên sở hữu công xã bậc cao, sao lại còn giao đất giao rừng. Sai lầm từ quan niệm lộn xộn là chỗ nhận thức chưa đúng. Tính lịch sử phải nâng cao lên bằng tính hiện đại chứ không phải là lòng tự hào về tính lịch sử.

Một xu hướng nữa là sự việc vốn nhất thể là một, chúng ta lại đem phân đôi để đem kết hợp. Phân ra để nghiên cứu rồi nhập lại một để chỉ đạo là một cách hay trong phương pháp, nhưng sự việc vốn là một lại phân ra để chỉ đạo rõ ràng là tạo nên những nhiễu loạn không cần thiết. Chúng tôi quan niệm rằng ở một đất nước nhiều dân tộc như nước ta chính sách quốc gia cũng đồng thời là chính sách dân tộc. Liệu các chương trình kinh tế-xã hội ở các vùng miền dân tộc có thể được hoàn thành một cách hoàn hảo, nếu không chú ý đến những người thực hiện chúng là nhân dân các dân tộc ở các vùng miền đó. Do khái niệm, tình hình này cũng là hiện tượng chung đối với việc hoạch định các chương trình kinh tế-xã hội khác ở Tây Nguyên hoặc ở những vùng có sự cư trú đan xen của các dân tộc ít người. Trong các giai đoạn cách mạng đã qua, việc tách hai thành phần chính sách đã thu được nhiều thành tích cho dù tính lịch sử là do những người chiến thắng viết lại, những thành quả về mặt này là điều không thể phủ nhận. Nhưng sang giai đoạn mới cần phải có một sự lựa chọn các cách đi phù hợp cho sự phát triển của thời đại là cách lựa chọn tối ưu nhất. Có thể nêu ra một ví dụ cụ thể để chứng minh cho nhận định trên. Trước năm 1975, ở dân tộc Xtiêng với quá trình nâng lên của tính tộc người về lịch sử, một số vùng đã từ gậy chọc lỗ lên thẳng để sử dụng máy cày, từ việc sử dụng voi để thực hiện giao lưu, trao đổi với các vùng lân cận đến việc sử dụng thành thạo các loại ô tô làm phương tiện vận tải. Sau 1975, với quan niệm những ai có phương tiện cơ giới thuộc thành phần tiểu chủ và với bao nhiêu điều rắc rối phức tạp khác, những phương tiện này trở thành tài sản tập thể, lâm vào cảnh cha chung không ai khóc, dần dần trở thành những đống sắt vụn, họ lại quay trở về sử dụng gậy chọc lỗ, đi bộ để cho được thoải mái, thảnh thơi. Kinh nghiệm thất bại này cũng đáng để chúng ta suy nghĩ. Nhưng theo chúng tôi hiện tượng này mang ý nghĩa một vấn đề lý luận.

Xu hướng thứ ba thường thấy nhất là những sự việc vốn đã có sự tách bạch rõ ràng, cho nên khi nêu lên chủ trương kết hợp, về mặt logic hình như cũng thoả đáng, chẳng có gì đáng bàn nữa. Thật ra, trong quá trình chỉ đạo cụ thể, sự bao sân, bao cấp đã gây nên bao sự nhiễu loạn do quan niệm bao cấp lùng nhùng. Các vùng dân tộc ít người trong hoạch định kinh tế-xã hội trở thành những lâm trường, nông trường. Các đơn vị kinh tế kiêm luôn quản lý hành chính. Đứng về mặt kinh doanh thì họ phải được quyền đòi hỏi một sự đền bù và họ phải được hoạch định một khu vực cư trú làm ăn khác được pháp luật bảo trợ. Vì là kết hợp nên sự việc trở nên lằng nhằng. Lương bổng của cán bộ, công nhân được hoạch định một người nuôi được một người ăn theo trên lý thuyết, nhưng thực tế một không đủ nuôi một. Nay trở thành kết hợp làm sao nuôi đủ cả nhà. Vì kết hợp cho nên tính tộc người về mặt lịch sự, đồng thời là tính hiện đại, cho nên những lao động thuộc dân tộc ít người trở thành những lao động giản đơn, những lao động không nắm được kỹ thuật, tiền lương thấp kém. Các đơn vị kinh tế làm theo nguyên tắc hoạch toán, cho nên trên thực tế họ không thể tránh khỏi mức thu nhập thấp. Những khu vực cư trú của họ được đưa vào kinh doanh, ví dụ như du lịch chẳng hạn, hỏ phải được quyền chia lãi theo đúng pháp luật quy định, chứ không thể tính theo hưởng phúc lợi, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Chính trị kinh tế học là một khoa học nghiêm túc, nhất thể hoá nhưng sự quản lý về hành chính chính trị với việc quản lý kinh tế là hai mặt khác nhau của một vấn đề thống nhất. Một giám đốc nông trường hoặc lâm trường khó có thể làm tốt cương vị kiêm nhiệm luôn cả chủ tịch xã về mặt hành chính.

Chúng tôi quan niệm chính sách dân tộc cũng là chính sách quốc gia không chỉ bao hàm các quan hệ đối nội mà cả các quan hệ đối ngoại. Do cách làm trước đây và cũng do kế thừa các triết lý lịch sử đã nêu, chính sách dân tộc của chúng ta gần như được hiểu là chính sách đối nội các dân tộc ít người ở trong nước. Người Thái, người Lào, người Khmer… là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có gì phải kém cạnh với công dân ở các nước láng giềng tương ứng. Bản chất được đánh giá theo cách quen dùng là thành tích đã đạt được, là điều cần khẳng định. Cái được cái mất theo sự so sánh đồng đại, cách ứng xử bao giờ cũng đặt trên hai mặt trắc diện và bình diện. Người Thuỷ, người Đồng, người Mông, người Dao và nhiều tộc người khác do hoàn cảnh lịch sử đã trở thành công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sẽ phải có cách ứng xử gì đối với người đồng tộc là công dân của các quốc gia khác.

Nghị định xây dựng trình Chính phủ cũng cần xem xét tất cả các sự vật có liên quan trong hệ thống chính sách về vấn đề dân tộc rất cụ thể và nhân văn.

TS. Lò Giàng Páo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,006


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs