Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Báo cáo điển hình của anh H'Lan Niê tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam

 07/04/2010

BÁO CÁO ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC “VẬN ĐỘNG GIÀ LÀNG, TRƯỞNG BUÔN, BON VÀ NHÂN DÂN CHẤP HÀNH ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC, LÀM CHO BUÔN, LÀNG THỰC HIỆN DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH”

 I-Sơ lược lý lịch:

- Họ và tên: H'Lan Niê.                              
- Sinh ngày: 16/7/1963
- Quê quán: Buôn Nui – Tâm Thắng – Cư Jút – Đăk Nông.
- Dân tộc: ÊĐê.

- Trình độ:  

+ Học vấn: 12/12
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Trung cấp thanh vận.
+ Lý luận chính trị: Cao cấp.

- Ngày vào Đảng: 03/5/1982     Ngày chính thức: 03/11/1983
- Chức vụ, đơn vị công tác: Uỷ viên Ban thường vụ Huyện uỷ – Trưởng Ban Dân vận Huyện uỷ - huyện Cư Jút - tỉnh Đăk Nông.
- Lĩnh vực hoạt động: Tham mưu cho Huyện ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của Đảng và trực tiếp vận động qần chúng.

II- Thành tích tiêu biểu đạt được:

1- Khái quát đặc điểm của huyện Cư Jut:

Cư Jút nằm ở phía đông bắc của tỉnh Đăk Nông, tiếp giáp với thành phố Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk. Cách trung tâm tỉnh lỵ 110km, có 20 km đường biên giới với tỉnh Mun – Đun – Ki – Ri (Cămpuchia). Có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Đăk Nông.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử dân tộc, vùng đất này mới có tên huyện Cư Jút như ngày nay. Thực hiện thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, Đăk Nông và Cư Jút nói riêng luôn đoàn kết một lòng theo Đảng, Bác Hồ, đoàn kết đấu tranh chống Thực dân Pháp, Mỹ - Nguỵ bảo vệ quê hương, đất nước. Năm 1975 nước nhà hoàn toàn thống nhất, cả nước cùng đi lên xây dựng CNXH, đồng bào tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc; nêu cao ý thức tự lực, tự cường, chung sức, chung lòng khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh phát triển sản xuất xây dựng quê hương giàu đẹp.

Đối với Cư Jút, sau gần 20 năm thành lập và phát triển đến nay toàn huyện có gần 90.000 dân, với 19 dân tộc anh em cùng sinh sống đan xen, đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; trong đó dân tộc Kinh chiếm 54,6%; dân tộc thiểu số chiếm 45,4%; riêng đồng bào các dân tộc tại chỗ (Êđê, M’Nông) chiếm 7%, sinh sống trên 10 buôn, bon của huyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện kinh tế của huyện luôn luôn có bước tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước; sự nghiệp giáo dục, ytế, văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện, tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được ổn định và giữ vững. Có thể nói rằng ước mơ, khao khát cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc bao đời nay của đồng bào các dân tộc Cư Jút đã và đang trở thành hiện thực.

2- Những thành tích điển hình của cá nhân:

Trước hết bản thân tôi luôn xác định: Vai trò của quần chúng nhân dân và công tác Dân vận luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong mọi thời kỳ cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ mới hiện nay; muốn thành công trong công tác vận động quần chúng, ngoài yếu tố về vai trò lãnh đạo của cấp ủy, sự quản lý điều hành của chính quyền, sự phối, kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng của các ban, ngành, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội thì vai trò của già làng, trưởng buôn, bon, và những người có uy tín trong đồng bào là yếu tố rất quan trọng cần tranh thủ. Vì, già làng, trưởng buôn, bon, trưởng các dòng họ là những người không chỉ đồng ngôn ngữ, họ còn am hiểu rất rõ phong tục, tập quán của đồng bào mình, có kinh nghiệm thực tiển trong cuộc sống, tham gia giải quyết thành công nhiều vấn đề nảy sinh mâu thuẩn trong buôn làng. Mặt khác, họ còn giữ vai trò rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động dòng họ, cộng đồng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương thông qua việc làm và uy tín của mình.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, bản thân tôi luôn gần gũi, trao đổi với họ những điều trăn trở có liên quan đến cuộc sống của buôn làng, như: Giữ gìn sự đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, tích cực lao động sản xuất, thực hiện xoá đói, giảm nghèo; đặc biệt là cần trồng những cây gì, nuôi con gì để có hiệu quả kinh tế nhất, phù hợp với trình độ canh tác của buôn làng, động viên con, em đến trường và không được bỏ học; vấn đề thực hiện dân số, kế hoạch hóa gia đình; vấn đề ăn ở hợp vệ sinh, phòng chống dịch bệnh; vấn đề nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, kiên quyết không nghe, không tin, không làm theo lời xúi dục của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, chống phá sự bình yên của buôn làng. Mặt khác, bản thân còn thường xuyên thông tin và cung cấp tài liệu có liên quan đến công tác vận động quần chúng cho họ. Qua đó đã vận đông, tranh thủ được các già làng, trưởng buôn, bon, những người có uy tín không nghe kẻ xấu, luôn gương mẫu chấp hành, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà còn phối hợp với Cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể tuyên truyền, vận động bà con trong buôn phát huy đoàn kết Kinh, Thượng, đoàn kết lương - giáo, thi đua lao động sản xuất xây dựng buôn làng giàu đẹp.

Do đó, từ một nền kinh tế du canh, du cư với phương thức canh tác lạc hậu, đến nay đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa trong huyện Cư Jút đã biết khai hoang, làm thủy lợi, trồng lúa nước và các loại cây nông sản, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, đời sống của đồng bào không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể, trước năm 2005 tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào bình quân trên 52%, có buôn 61%, đến nay đã giảm còn 13%; 100% buôn, bon đều có 02km đường nhựa ở trung tâm buôn, 100% số hộ đồng bào có điện sinh hoạt. 10/10 buôn, bon có trường mẫu giáo, có nhà sinh hoạt cộng đồng, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào được khôi phục và phát huy như: Lễ hội mừng lúa mới, văn hóa cồng chiêng, nhạc cụ tự tạo, nghề dệt thổ cẩm…, phong trào văn hoá, văn nghệ - thể dục thể thao được đẩy mạnh. Thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đến nay có 48,8% hộ đồng bào đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 01 buôn đạt buôn văn hóa, 1 bon đạt danh hiệu bon tiên tiến 2 năm liền. Các tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan đã được xóa bỏ. Trên 70% hộ đồng bào sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, an ninh nông thôn, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, hệ thống chính trị trong 10 buôn, bon được củng cố. Trước đây chỉ có 5 đảng viên là người dân tộc tại chỗ, đến nay đã có 32 đồng chí, 10/10 buôn, bon đã có Chi bộ, Ban tự quản do dân trực tiếp bầu, tỷ lệ thu hút đồng bào tham gia vào các tổ chưc đoàn, hội bình quân đạt gần 67%, mỗi buôn, bon hình thành từ 2-7 tổ “nhân dân tự quản” (toàn huyện có 41 tổ).

Kính thưa Đại hội!

Để có được kết quả nêu trên, trong những năm qua, bản thân tôi mặc dù có những khó khăn nhất định như: vừa công tác, vừa phải đi học để nâng cao trình độ; hoàn cảnh gia đình neo đơn, sức khoẻ có lúc hạn chế, địa bàn hoạt động rộng. Song tôi đã kắc phục mọi khó khăn cùng tập thể Ban Dân Vận Huyện ủy đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể từ huyện đến cơ sở và đội ngũ già làng, trưởng buôn, bon, người có uy tín trong buôn làng để tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như chỉ thị nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương đến với đồng bào thông qua hàng trăm đợt phát động quần chúng với nhiều hình thức như: phát động từng buôn, bon; phát động theo giới; phát động theo từng “tổ nhân dân tự quản”; phát động theo từng điểm nhóm tôn giáo, phát động theo từng chuyên đề… Với những nội dung phong phú, đa dạng, ngắn gọn, dễ hiểu như: chính sách tôn giáo-dân tộc của Đảng, Nhà nước; pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; luật hôn nhân và gia đình; luật phòng chống bạo hành gia đình… Đặc biệt thường xuyên tuyên truyền cho đồng bào hiểu rõ chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị của bọn phản động PULRO và các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để giúp đồng bào nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng nhằm ngăn chặn sự dụ dỗ, lôi kéo, kích động tư tưởng ly khai, vượt biên.

Cùng với sự phối kết hợp đồng bộ trong công tác vận động quần chúng, bản thân tôi luôn chủ động làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về những vấn đề có liên quan đến nhân dân, như: Tham mưu, triển khai thực hiện tốt Chương trình 10 của Huyện ủy về phát triển bền vững 10 buôn, bon; sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng có liên quan đến công tác dân vận, mà trực tiếp là Nghị quyết Hội nghị TW 7 (Phần 2) khóa IX về “công tác dân tộc”, “Công tác tôn giáo” và “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tham mưu mở các lớp học tiếng đồng bào cho cán bộ công chức trong huyện; tham mưu mở các lớp học chính trị cho các đối tượng thường bị bon xấu dụ dỗ, lôi kéo, những thanh, thiếu niên hư hỏng… Từ đó, giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có điều kiện thuận lợi để giao tiếp, hòa nhập với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời giúp cho các đối tượng nhận thức và hiểu rõ hơn về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của địa phương và địa bàn Tây Nguyên, giúp buôn làng thực hiện “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bên cạnh đó bản thân tôi thường xuyên bám nắm buôn làng, chủ động phối hợp xử lí kịp thời những nảy sinh, vướng mắc ở cơ sở thuộc chức năng, thẩm quyền của mình. Coi trọng việc xây dựng cốt cán, xây dựng thực lực chính trị; trong đó đặc biệt coi trọng việc tuyên truyền, vận động đội ngũ các già làng, trưởng buôn, bon và những người có uy tín trong đồng bào để thường xuyên phối hợp hoạt động.

Kính thưa các đồng chí đại biểu!

Kính thưa Đại hội!

Vấn đề dân tộc luôn là vấn đề nhạy cảm. Vì vậy, công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc bản địa nói riêng trong tình hình hiện nay không những đòi hỏi người cán bộ dân vận phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu sâu rộng, mà điều quan trọng hơn là phải có uy tín với đồng bào để nói cho đồng bào hiểu, tin và làm theo. Muốn vậy cán bộ dân vận phải có nghệ thuật tuyên truyền, nội dung tuyên truyền có chọn lọc, trọng tâm và phù hợp với từng đối tượng. Không được hứa suông với đồng bào, phải gần gũi, tôn trọng và mạnh dạn giao trách nhiệm cho già làng, trưởng buôn, người có uy tín để họ phấn khởi nhận nhiệm vụ.

- Phải tôn trọng phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào, biết “hòa nhập” thật sự với đồng bào…
- Tích cực tham gia giải quyết có hiệu quả những vấn đề đồng bào quan tâm và những nảy sinh, vướng mắc trong cộng đồng dân cư.
- Cán bộ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải biết nói tiếng đồng bào.
- Mặt khác, phải thường xuyên chủ động tham mưu cho Cấp uỷ để kịp thời, lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết những vấn đề nẩy sinh trong cộng đồng dân cư. Thường xuyêngiao ban, hội ý với Mặt trận, các đoàn thể và với cơ sở.

*Qua quá trình hoạt động, công tác bản thân đã được khen thưởng:

- Huy chương “vì thế hệ trẻ”, “người phụ trách giỏi”, kỷ niệm chương “vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, “vì sự nghiệp dân vận”, “vì sự nghiệp phát triển dân tộc và miền núi”, “vì sự nghiệp hội người cao tuổi”.
- Năm 2007 được UBND tỉnh tặng bằng khen về công tác dân vận.
- Năm 2008 được Ban Dân vận Tỉnh uỷ tặng giấy khen.
- Năm 2009: HĐND-UBND tỉnh tặng 3 bằng khen về công tác HĐND, công tác dân tộc và công tác dân vận.

* Kiến nghị:

- Đề nghị có chính sách thay đổi phương thức hỗ trợ đối với hộ đồng bào dân tộc như: cấp hỗ trợ tiền dầu, tiền điện, không thu tiền muối iốt tại quyết định 168/2001 của Thủ tướng chính phủ, chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển bằng chính sách đầu tư, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm và định mức cho các hộ, nhất là hộ nghèo.

- Đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các già làng, tăng mức phụ cấp cho trưởng buôn và cán bộ bán chuyên trách của Mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở. Có phụ cấp ưu đãi cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân vận - Mặt trận và các đoàn thể.

Kính thưa đại hội!

Trên đây là báo cáo thành tích tiêu biểu của bản thân, rất nhỏ bé so với thành tích chung của cả huyện nhà. Qua đại hội này, tôi xin thay mặt đồng bào các dân tộc huyện Cư Jút nói riêng, tỉnh Đăk Nông nói chung xin hứa với Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH và sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Quyết tâm xây dựng quê hương, buôn làng giàu, mạnh, dân chủ, công băng, văn minh.

Kính chúc quý vị Đại biểu sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt!

Chúc Đại hội đoàn kết, thành công tốt đẹp!

[C.V.T]

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Danh sách đại biểu tỉnh Đắk Nông dự Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam (02/2010)
  •  
  • Ðại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Ðắk Nông (01/2010)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Đác Glong lần thứ nhất (11/2009)
  •  
  • Báo cáo công tác tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông (11/2009)
  •  
  • Báo cáo số lượng đại biểu chính thức dự Đại hội cấp tỉnh, cấp huyện và thời gian tổ chức Đại hội trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (11/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,934,035


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs