Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Báo cáo tham luận về công tác bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa

 30/03/2010

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Quy nhơn, ngày    tháng 3 năm 2010

BÁO CÁO THAM LUẬN

Về công tác bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa
các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định

Họ và tên: Đinh Y Nam. Sinh năm 1950. Dân tộc : Bana; giới tính: Nam.
Trình độ chuyên môn: Trung cấp.
Chức vụ hiện nay: Quyền Trưởng ban Ban Dân tộc tỉnh Bình Định

Kính thưa : Qúy vị đại biểu!
Kính thưa : Đại hội!

Được sự cho phép của Đoàn Chủ tịch Đại hội, tôi xin đại diện cho Ban Dân tộc và Sở Văn hóa, Thông tin và Du Lịch tỉnh Bình Định báo cáo tham luận về công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Bình Định trong thời gian qua.

Kính thưa Đại hội!

Vùng dân tộc miền núi Bình Định với diện tích đất tự nhiên 374.212 ha, chiếm 62,1% so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, dân số khoảng 300 nghìn người; nơi cư trú của 33 dân tộc thiểu số, khoảng 32 nghìn người, chủ yếu là 3 dân tộc Bana, Chăm, Hrê, còn lại một số dân tộc thiểu số khác đến định canh định cư sau năm 1975; mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa phong phú và độc đáo riêng, góp phần tạo nên bức tranh sắc thái văn hóa đa dạng, muôn màu rực rỡ.

Từ sau ngày giải phóng năm 1975, nhờ sự quan tâm đầu tư xây dựng của các cấp, các ngành trên tất cả các lĩnh vực; nhất là về Chương trình định canh,định cư, Chương trình 135, Chương trình trung tâm cụm xã, Chương trình 134, Chương trình giao đất giao rừng cho các hộ chăm sóc và bảo vệ, kinh tế - xã hội đồng bào các dân tộc phát triển khá rõ nét; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt và an ninh chính trị được giữ vững .

Tuy nhiên, so với vốn đầu tư thì hiệu quả mang lại chưa tương xứng, kinh tế bà con sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa kinh tế phát triển còn chậm và thiếu bền vững; việc chuyển đổi vật nuôi cây trồng theo lợi thế của từng vùng và công tác quy hoạch vùng để phát triển còn hạn chế; chất lượng nhiều công trình hiệu quả sử dụng còn hạn chế, có nhiều công trình thiếu duy tu, bảo dưỡng xuống cấp nhanh; trình độ học vấn của đồng bào nhìn chung thấp; trình độ đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở cơ sở còn yếu; công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức; mức hưởng thụ về đời sống vật chất và tinh thần thấp…

 Đặc biệt, văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình hội nhập đã kéo theo sự phá vỡ tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào, tạo nên một nền văn hóa mới pha trộn gồm văn hóa truyền thống của đồng bào kết hợp với văn hóa của các dân tộc ở miền xuôi và văn hóa các tôn giáo khác truyền vào trong thời gian gần đây. Một số lễ hội truyền thống mang tính cộng đồng ít được bà con quan tâm như các lễ nghi liên quan đến nông nghiệp; sự linh thiêng của những khu rừng cấm, dòng sông, con suối để hạn chế sự phá hại của con người đối với môi trường sinh thái đã phai nhạt như việc tôn thờ thần núi, thần rừng thần sông, thần suối; nhà ở của đồng bào chủ yếu làm nhà gạch ngói, cấu trúc giống nhà người kinh, không làm theo nhà sàn; y phục truyền thống dân tộc thiểu số thường chỉ xuất hiện vào các ngày lễ hội; một số thanh thiếu niên do ảnh hưởng của môi trường sống đã không tích cực tham gia học tập lao động sản xuất mà học đòi ăn chơi, gây rối, đua xe, trộm cắp, tiếp tay cho lâm tặc…; có nhiều mối quan hệ nam nữ không lành mạnh, nhất là giữ người dân tộc thiểu số và người kinh; việc sang nhượng đất đai trái pháp luật diễn ra khá phổ biến, nhất là đất rừng, đất trồng các loại cây công nghiệp; một số tệ nạn mê tín vẫn còn tồn tại trong đồng bào, nhất là việc tin vào ma quỷ, bói toán, yểm bùa, ma chay cầm đổ thuốc độc, nạn tảo hôn; việc quan tâm đến sức khỏe thể hiện trong việc ăn uống, phòng và điều trị bệnh chưa được người dân quan tâm đúng mức; tập quán du canh, du cư và phá rừng làm nương rẫy tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn tồn tại trong tâm lý của nhiều người. Một số cán bộ công tác ở vùng dân tộc do không hiểu nhiều về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào nên có những hạn chế nhất định trong quá trình công tác.

Vì thế, việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Bình Định rất cấp thiết, có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó sẽ tạo cho kinh tế phát triển mạnh mẽ và vững chắc; nhất là trong thời kỳ đất nước mở cửa và hội nhập.

Kính thưa Đại hội !

Quán triệt đường lối của Đảng, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã khẳng định, phát triển văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế và xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị; đảm bảo thực hiện tốt 3 lĩnh vực trên là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước .

Quán triệt đường lối của Đảng thời gian qua Ban Dân tộc phối hợp với Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch tham mưu Tỉnh ủy và UBND tỉnh thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh; nhất là trong giai đoạn 2001 – 2010 đã quyết định ban hành Đề án Phát triển Văn hóa -Thông tin đến năm 2010, Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, Đề án Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, Đề án Phát triển phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa’’.

Kết quả trong thời gian qua, công tác tác bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định; lễ hội văn hóa - thể thao miền núi cấp tỉnh được duy trì tổ chức 2 năm 01 lần, luân phiên ở các huyện miền núi và các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số, với các hoạt động văn hóa - thể thao phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều địa phương thông qua ngày hội văn hóa - thể thao đã tổ chức biểu diễn nhạc cụ truyền thống, thi dệt vải, đan lát, thi trang phục truyền thống, người đẹp miền núi, thi hát dân ca, các trò chơi văn hóa dân gian, đặc biệt là văn hóa cồng chiêng và văn hóa rượu cần được bảo tồn và phát triển …ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng được phát huy. Các huyện, xã miền núi thường xuyên xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch và tổ chức tuyên truyền các ngày lễ lớn hướng về cơ sở, phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, giải trí trong các dịp lễ, tết. Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao được xây dựng, phát triển sâu rộng ở cơ sở, trong các cơ quan, trường học. Qua hội thi, liên hoan đã góp phần giới thiệu, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân.

 Công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, bảo tàng văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc được giữ gìn và phát huy. Chữ viết của 3 dân tộc Chăm, Bana, Hrê đã được nghiên cứu, biên soạn hoàn thành. Đã biên soạn giáo trình và đưa vào giảng dạy tiếng Bana tại huyện Vĩnh Thạnh và tiếng Hrê tại huyện An Lão cho cán bộ chủ chốt và cán bộ các cấp trên địa bàn huyện. Hoàn thành các đề tài nghiên cứu về văn hóa: “Nghiên cứu văn hóa Làng của người Bana Kriêm ở Bình Định”, “Nghiên cứu văn hóa cổ truyền người Chăm ở huyện Vân Canh”, “sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Làng người Hrê ở Bình Định”, “Lễ cưới dân tộc Hrê ở xã An Vinh”, “ Lề cầu mưa dân tộc Chăm H’roi làng Hòn Mẻ, Canh Thuận”, “Lễ mừng cốm mới dân tộc Bana ở xã BókTới”, “Sinh hoạt âm nhạc dân gian người Hrê ở xã An Trung”, “ Lễ đổ đầu người Chăm H’roi làng Suối Mây, Thị trấn Vân Canh”, “Lễ ăn trâu tạ ơn người Bana làng Kon TơLok ( Vĩnh Thạnh)”, “Lễ ăn trâu mừng nhà rông của người Bana”. Sưu tầm in và phát hành 02 tập sách: Trường ca Bana và Sử thi Bana…

Đã xếp hạng 12 di tích lịch sử - văn hóa, nâng tổng số di tích ở miền núi được xếp hạng lên: 13 di tích, trong đó có 2 di tích cấp Quốc gia, một số di tích đã được đưa vào khai thác sử dụng phục vụ giáo dục truyền thống, tiêu biểu như: Di tích Gộp Nước Ló, di tích nơi thành lập Trung đoàn 96 ở huyện Vĩnh Thạnh, di tích chiến thắng An Lão, di tích Thuận Ninh (Tây Sơn), di tích đồn Khố Xanh (Vân Canh)…

Ngoài ra, các nhạc cụ truyền thống được gìn giữ và phát huy hiệu quả trong đời sống tinh thần của đồng bào; nghề dệt vải, đan lát truyền thống đã trở lại trong sinh hoạt hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số; trang phục sinh hoạt truyền thống của dân tộc đã được lớp trẻ đón nhận và tự hào đối với dân tộc mình.

Công tác quy hoạch và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở được tỉnh, huyện quan tâm đầu tư. Đến nay có 03 nhà văn hóa huyện, 6/22 nhà văn hóa xã, 04 khu sinh hoạt văn hóa - thể thao có sân khấu ngoài trời kiên cố; có 93/118 làng người dân tộc thiểu số có nhà rông, nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, chiếm tỷ lệ 78,8%. Chương trình mục tiêu về văn hóa đã hỗ trợ 22 xã miền núi trang thiết bị âm thanh ánh sáng, trị giá mỗi bộ 11 triệu đồng; ¼ số làng  miền núi có phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển tốt được tỉnh hỗ trợ trang thiết bị âm thanh, ánh sáng để phục vụ nhiệm vụ góp phần tăng cường năng lực phục vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân.

Công tác xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa đã được các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở  thường xuyên quan tâm; đến nay, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số có trên 92% hộ đăng ký xây dựng gia đình văn hóa, 80% đạt gia đình văn hóa. Đã công nhận làng văn hóa đạt 34% so với tổng số làng trên địa bàn.

Những năm qua, đã có một số danh nghiệp lữ hành trên địa bàn tỉnh quan tâm đến việc khai thác giá trị văn hóa truyền thống đồng bào dân tộc thiểu số phục vụ khách du lịch như một số làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm.

Hoạt động thể dục - thể thao ở miền núi những năm qua đã duy trì ổn định và từng bước phát triển; các môn thể thao như bắn nỏ, bóng truyền, kéo co, đẩy gậy, phóng lao, chạy vượt đồi dốc, đi cà kheo và một số chò chơi dân gian đã được đưa vào trong các kỳ Ngày hội văn hóa –thể thao các dân tộc thiểu số miền núi.Tại Hội thao các dân tộc thiểu số toàn quốc 2007, trong 8 bộ huy chương môn bắn nỏ, đoàn Bình Định đã đoạt 6 huy chương vàng, 2 huy chương bạc, 3 huy chương đồng.Tại Đại hội thể dục- thể thao toàn quốc lần thứ V năm 2002, Đoàn Dân tộc thiểu số Bình Định đã đoạt Huy chương bạc đồng đội nam. Năm 2007 tham gia Giải vô địch bắn nỏ toàn quốc tại Thái Nguyên đoạt 1 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc và 3 Huy chương đồng.Việc quy hoạch quỹ đất phục vụ phong trào thể dục thể thao ở các xã miền nùi trong các năm qua tuy chưa đảm bảo quy định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần từng bước phát triển thể dục - thể thao miền núi. Kính thưa Đại hội!

Chúng ta biết rằng, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số rất phong phú, độc đáo, đa dạng, là cái làm nên bản sắc dân tộc, tồn tại trong dân gian dưới dạng vật thể và phi vật thể, rất dễ mất, chưa được điều tra, thống kê, sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu đầy đủ, đã và đang có nguy cơ cao bị phai nhạt, mất mát. Văn hóa phi vật thể của các dân tộc có 2 mặt: tích cực và cũng có một số hạn chế như một số phong tục, tập quán lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của các dân tộc;

Vì vậy, để tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; tỉnh Bình Định trong thời gian tới sẽ tiếp tục thực hiện một sồ nhiệm vụ sau đây:

1. Tiếp tục điều tra, thống kê, phân loại các vốn văn hóa truyền thống của từng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
2. Đối với văn hóa phi vật thể tổ chức sưu tầm, tư liệu hóa các di sản, rồi lần lượt tổ chức nghiên cứu, giới thiệu những giá trị tốt đẹp để mọi người biết và quý trọng. Phục dựng lại một số lễ hội truyền thống đặc sắc của mỗi dân tộc, giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp, những trò chơi, văn học, nghệ thuật dân gian.
3. Đối với văn hóa vật thể, chọn những di sản tiêu biểu, có giá trị về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử để lập hồ sơ công nhận cấp tỉnh, cấp quốc gia. Lập dự án bảo vệ, chống xuống cấp, tôn tạo, bảo quản lâu dài. Sưu tầm hiện vật quý để lưu giữ, trưng bày các bảo tàng, nhà truyền thống.
4. Tổ chức các hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật truyền thống ở cơ sở.
5. Lựa chọn một số làng, xã tiêu biểu có giao thông thuận lợi, kết hợp phong cảnh thiên nhiên và ngành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu để lập dự án bảo tồn, phát huy gắn với hoạt động du lịch, văn hóa sinh thái làng.
6. Tiếp tục vận động cán bộ, nhân dân sáng tạo những giá trị mới về văn hóa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc văn hóa truyền thống của dân tộc mình và văn hóa các dân tộc anh em phù hợp để làm giàu cho văn hóa từng dân tộc.
7. Tiếp tục xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ ở vùng dân tộc thiểu số trên cơ sở đẩy mạnh cuộc vận động” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vă hóa” ở khu dân cơ mà trọng tâm là xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa.
8. Tiếp tục đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; năn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội ( cũ và mới) ở vùng dân tộc thiểu số.

Tại Đại hội này, tôi xin kiến nghị Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư thỏa đáng công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

Cuối cùng, xin kính chúc quý vị đại biểu mạnh khoẻ, hạnh phúc; chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Xin chân thành cảm ơn!

[C.V.T]

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Báo cáo tham luận Kinh nghiệm phát huy già làng, người có uy tín (03/2010)
  •  
  • Danh sách đại biểu tỉnh Bình Định dự Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam (02/2010)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Vĩnh Thạnh (11/2009)
  •  
  • Đại hội đại biểu Các dân tộc thiểu số huyện An Lão (11/2009)
  •  
  • Báo cáo thông tin về số lượng đại biểu chính thức dự Đại hội cấp tỉnh, cấp huyện đã được phê duyệt (11/2009)
  •  
  • Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định. (08/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,934,297


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs