Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Báo cáo tham luận Thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào

 29/03/2010

BÁO CÁO THAM LUẬN

Thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Kính thưa:       

- Đoàn Chủ tịch
- Thưa quý vị Đại biểu
- Thưa Đại hội

Hôm nay, tôi rất vinh dự được về đây tham dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam ; được sự cho phép của Ban tổ chức và Đoàn Chủ tịch Đại hội, tôi xin thay mặt Ban Dân tộc tỉnh báo cáo trước Đại hội về tình hình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

I. TÌNH HÌNH VÙNG DÂN TỘC MIỀN NÚI CỦA TỈNH:

Kon Tum là một tỉnh miền núi, vùng cao có trên 20 dân tộc sinh sống với dân số 413.042 người, trong đó đồng bào DTTS 221.411 người, chiếm tỷ lệ 53,6%. Là vùng đất giàu truyền thống cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, có nhiều bản sắc văn hóa rất riêng của khu vực bắc Tây nguyên qua các lễ hội, Sử thi, các giá trị truyền thống vật thể, phi vật thể.

Toàn tỉnh hiện có 8 huyện, 1 thành phố và 97 xã, phường, thị trấn với 824 thôn, làng, tổ dân phố; có 78 xã thuộc vùng khó khăn; 19 xã, phường khu vực I, 32 xã thuộc khu vực II và 46 xã thuộc khu vực III. Đến năm 2009 toàn tỉnh có 51 xã ĐBKK và 35 thôn, làng ĐBKK thuộc xã KV II được thụ hưởng Chương trình 135 giai đoạn II; Thực hiện Nghị quyết số 05/2009/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh, giai đoạn 2008-2010 xác định có 08 xã và 52 thôn, làng trọng điểm ĐBKK được ngân sách tỉnh hỗ trợ đầu tư. Phần lớn đồng bào DTTS sống tập trung ở các xã khu vực II, III thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh và một bộ phận đồng bào sinh sống ở vùng ven của các thị trấn và thành phố Kon Tum với 6 dân tộc bản địa sinh sống từ lâu đời đó là: Xơ đăng, Ba Na, Gia rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm.

Qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VI) về một số chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào miền núi của tỉnh được quan tâm đầu tư phát triển. Những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) và thông qua các Chương trình, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH (trong 10 năm từ 1998 đến nay)

1. Thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia – các dự án:

Để thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, các cấp chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể của tỉnh, sự hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức xã hội… trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh như: Chương trình 135, Chương trình 134, Chương trình 168, Chính sách định canh - định cư theo Quyết định số 33/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Chính sách hỗ trợ vốn sản xuất theo Quyết định số 32/TTg và Quyết định 126/TTg của Thủ tưởng Chính phủ và 02 dự án hỗ trợ, phát triển dân tộc ít người Brâu, Rơ Măm… đã góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi.

2. Một số chính sách đặc thù của địa phương:

- Thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU (khoá XIII) của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh xây dựng các xã ĐBKK, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã xây dựng Chương trình số 37-CTr/TU tập trung xây dựng 14 xã trọng điểm ĐBKK ở 4 huyện: Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plong và Kon Rẫy. UBND tỉnh ban hành Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 22/02/2008 quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với các xã trọng điểm ĐBKK, cụ thể: Huy động các nguồn lực cùng Chương trình 135 giai đoạn II đảm bảo đầu tư phần cơ sở hạ tầng mỗi xã ít nhất 1,4 tỷ đồng/xã/năm; Bù, hỗ trợ lãi suất cho hộ nghèo là đồng bào DTTS vay vốn theo dự án; Cơ chế đặc thù để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư sản xuất kinh doanh tại các xã trọng điểm ĐBKK; Hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, dịch vụ “đầu vào”, “đầu ra” cho hộ nông dân. Từ năm 2010 bố trí ngân sách tỉnh ngay từ đầu năm để đầu tư cho 08 xã trọng điểm ĐBKK với mức tối thiểu 3 tỷ đồng/xã/năm để hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.

Chính sách thu hút cán bộ, sinh viên về công tác tại tỉnh thực hiện theo Quyết định 44/QĐ-UBND.

3. Một số kết quả: Về thực hiện Chương trình 134 và 135 đã xây dựng hơn 1.600 công trình các loại; 12.023 lượt hộ được hỗ trợ phát triển sản xuất; 21.228 lượt hộ nghèo DTTS được hỗ trợ về nhà ở, đất ở, đất sản xuất; tổ chức định canh định cư cho 1.747 hộ; ngoài ra, tỉnh còn có Đề án phát triển cao su tiểu điền, đối với các hộ nghèo DTTS với mức hỗ trợ 50% lãi suất trong thời gian 6 năm. Bên cạnh việc thực hiện các chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ đời sống, chính sách y tế, giáo dục vùng đồng bào DTTS cũng được Đảng và Nhà nước chú trọng, đến nay 100% số xã có trường học kiên cố, 8/9 huyện, thành phố có trường Dân tộc nội trú và 01 trường DTNT tỉnh, cơ sở vật chất, trường lớp từng bước được đảm bảo cho việc dạy và học.

Mạng lưới y tế cấp xã được cũng cố và tăng cường, đảm bảo công tác khám, chữa bệnh cho người dân. Riêng năm 2009, đã xây dựng 17 trạm y tế xã, 11 phòng khám đa khoa khu vực, cử 17 Bác sỹ tăng cường hỗ trợ công tác khám chữa bệnh tại các trạm y tế.

Tổng kinh phí đã đầu tư cho các chương trình, dự án nêu trên lên đến hàng ngàn tỷ đồng, riêng kinh phí từ Trung ương đầu tư là 714.737 triệu đồng.

Từ những kết quả trên có thể khẳng định rằng: Sau hơn 10 năm thực hiện, cùng với hệ thống các chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay đã có những chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội; đã giải quyết một phần nhu cầu bức thiết về cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ đồng bào DTTS phát triển sản xuất, thay đổi tập quán canh tác; nâng cao ý thức cộng đồng, tương thân, tương ái, ý thức tự vươn lên; đời sống nhân dân được cải thiện góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; hệ thống chính trị chính quyền, đoàn thể nhân dân vùng dân tộc thiểu số được chăm lo củng cố, quốc phòng, an ninh được bảo đảm, giữ gìn sự ổn định. Thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc, thực hiện công bằng xã hội giữa các vùng miền, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta.

Bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại hạn chế, đó là:

- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc hàng năm có giảm nhưng chưa bền vững; tỷ lệ hộ nghèo ở các xã ĐBKK còn cao, chiếm 43,7%; hộ nghèo đồng bào DTTS chiếm trên 90% trong tổng số hộ nghèo chung của tỉnh.
- Việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã biên giới, vùng đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn còn dàn trải, chưa đồng bộ dẫn đến hiệu quả còn thấp, chất lượng một số công trình chưa đảm bảo; xác định vị trí xây dựng một số công trình chưa phù hợp; chưa phát huy đầy đủ hiệu quả của một số công trình Nhà nước đầu tư.
- Ý thức của một bộ phận đồng bào DTTS còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước.
- Công tác qui hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số đã được quan tâm, nhưng việc bồi dưỡng và phát huy vai trò của cán bộ là người dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; công tác tuyên truyền, vận động của các tổ chức Mặt trận, đoàn thể ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn hạn chế, chưa đi vào chiều sâu.

Phương hướng thời gian đến:

1. Tăng cường công tác phối hợp giữa các ban, ngành liên quan, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục quán triệt tinh thần, nội dung của Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác dân tộc, khối Đại đoàn kết toàn dân, tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc với nhau.
2. Coi trọng tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, giáo dục truyền thống cách mạng; giữ vững quốc phòng an ninh, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng hệ thống chính trị ở các cấp vững mạnh; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS và dạy nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số.
3. Huy động các nguồn lực, tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã biên giới, vùng dân tộc miền núi ĐBKK; phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, nâng cao dân trí, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; kịp thời triển khai các chính sách của Trung ương đúng qui định.
4. Thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng Trung ương, địa phương (tỉnh, huyện, xã) chỉ đạo thực hiện đồng bộ các chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực của nhà nước, của nhân dân để thực hiện hiệu quả các chính sách, như: Chương trình 135, 134, định canh định cư, hỗ trợ đồng bào dân tộc khó khăn,… tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc có điều kiện tập trung sản xuất, vay vốn, thay đổi phương thức canh tác, từng bước xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống.
5. Các cơ quan thực hiện chính sách dân tộc tại địa phương phải thực hiện đúng, đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng đối với các công trình Nhà nước đầu tư. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực chính sách dân tộc.
6. Nghiên cứu nguồn gốc lịch sử, đặc điểm, phong tục tập quán... của từng dân tộc để tham mưu, đề xuất với tỉnh, Trung ương đề ra những chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc của từng dân tộc, đẩy lùi các tập tục lạc hậu để cộng đồng các dân tộc cùng phát triển kinh tế - xã hội, tích cực tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

          III. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT:

1. Đối với Trung ương:

- Sớm cho chủ trương thành lập lại Phòng Dân tộc đối với các địa phương có đông đồng bào DTTS, đồng thời có chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về công tác dân tộc.
- Tăng cường hơn nữa việc đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã biên giới, vùng đồng bào dân tộc ĐBKK.
- Phân bổ đủ vốn đầu tư các chương trình, dự án theo đề nghị sau khi UBND tỉnh đã phê duyệt.

2. Đối với tỉnh:

- Đề nghị cho chủ trương điều tra, khảo sát xây dựng Đề án nghiên cứu khoa học đối với 6 dân tộc bản địa của tỉnh Kon Tum, gồm: Xơ đăng, Ba na, Gia rai, Giẻ - Triêng, Brâu và Rơ Măm.
- Đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương lập Đề án khảo sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống ở khu vực thị trấn và ven thành phố để có chính sách hỗ trợ phù hợp vì thực tế đời sống đồng bào ở vùng này vẫn còn nhiều khó khăn; mức sống quá thấp so với mặt bằng chung.
- Nghiên cứu xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, gắn phát triển kinh tế với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống như phát triển các mô hình Du lịch cộng đồng tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh.
- Quan tâm xây dựng các chính sách đặc thù của địa phương như đẩy mạnh việc giao đất giao rừng, có chính sách hỗ trợ cho phù hợp để đồng bào sống được với nghề rừng, phù hợp tập quán canh tác nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn, bảo đảm phát triển bền vững.

Trên đây là báo cáo tham luận của Ban Dân tộc về tình hình thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Trong bản tham luận này, chúng tôi không thể mô tả hết kết quả sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc thời gian qua trên địa bàn tỉnh, mong Đại hội và quý vị đại biểu tham gia góp ý để công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian đến được tốt hơn.

Xin chúc quý vị đại biểu mạnh khoẻ, chúc Đại hội thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn!

[C.V.T]

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Báo cáo tham luận của huyện Kon Plông, tỉnh KonTum (03/2010)
  •  
  • Báo cáo tham luận của anh A Hun, nông dân sản xuất giỏi, thôn ĐăkMút, ĐăkMar, Đăk Hà, tỉnh Kon Tum (03/2010)
  •  
  • Danh sách đại biểu tỉnh Kon Tum dự Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam (03/2010)
  •  
  • Tu Mơ Rông Tổ chức Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số năm 2009 (02/2010)
  •  
  • Kon Tum: Một ngày trước Đại hội (02/2010)
  •  
  • Kế hoạch tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum (11/2009)
  •  
  • Quyết định thành lập Ban Tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum (11/2009)
  •  
  • Quyết định phân công nhiệm vụ cho các thành viên, quy định mối quan hệ làm việc của Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum (11/2009)
  •  
  • Báo cáo tình hình triển khai thực hiện tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum (11/2009)
  •  
  • Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum lần thứ nhất (10/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,889,635


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs