Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Báo cáo tham luận tại Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ nhất của Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La

 26/03/2010

BÁO CÁO THAM LUẬN

Tại Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc Lần thứ nhất

Kính thưa:  - Các đ/c: Lãnh đạo Đảng Nhà nước!

- Đoàn Chủ tịch Đại hội!
- Quý vị đại biểu, khách quý!
- Thưa toàn thể Đại hội.

Trước hết cho phép tôi thay mặt cho cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc, các lực lượng vũ trang của huyện Mộc Châu Anh hùng xin gửi tới các đ/c Lanh đạo Đảng Nhà nước các quý vị Đại biểu lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt; Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Được sự cho phép của Ban Tổ chức Đại hội, tôi xin trình bày tham luận với chủ đề: Kết quả việc thực hiện chính sách dân tộc qua các thời kỳ cách mạng của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

PHẦN THỨ NHẤT

Đặc điểm dân tộc và vùng dân tộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Mộc Châu là huyện vùng cao, biên giới, cửa ngõ của tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên  2.061,5 km2; huyện có 27 xã và 2 thị trấn với 366 bản, tiểu khu; có 5 xã vùng I, 8 xã vùng II, và 16 xã vùng III, trong đó có 4 xã vùng cao biên giới và 123 bản thuộc diện đầu tư Chương trình 135.

Toàn huyện có 12 dân tộc anh, em cùng chung sống với tổng số dân là 150.750 người; trong đó dân tộc thiểu số (DTTS) là 110.040 người, chiếm 72,38% dân số toàn huyện, gồm: dân tộc Thái 51.789 người, chiếm 34,07%; dân tộc Mông 24.449 người, chiếm 16,08%; dân tộc Mường 23.383 người, chiếm 15,38%; dân tộc Dao 9.062 người, chiếm 5,96%; còn lại là các dân tộc: Sinh Mun, Tày, Nhắng, La Ha, Thổ và các dân tộc khác 1.357 người, chiếm 0,89%.

 

PHẦN THỨ HAI

Tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc qua các thời kỳ

1. Giai đoạn 1930-1945

Nội dung chủ yếu của công tác dân tộc trong thời kỳ này là: Tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc, đấu tranh đòi quyền lợi, giúp cho người dân hiểu rõ hơn về Việt Minh, về chính quyền cách mạng, nâng cao ý thức giác ngộ cách mạng cho đồng bào các dân tộc, thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí đấu tranh của nhân dân. Xây dựng, bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ, tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc.

2. Giai đoạn từ 1945 -1954

Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ Tịch, vùng đồng bào các dân tộc huyện Mộc Châu được xây dựng trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc cho cuộc kháng chiến.    

Nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã chia ngọt sẻ bùi, nhường cơm sẻ áo, che trở nuôi dấu cán bộ, bộ đội, du kích góp phần vô hiệu hoá tất cả những thủ đoạn âm mưu của kẻ thù, đập tan những cuộc truy lùng, bao vây của địch, vượt qua những khó khăn ác liệt của cuộc chiến tranh. Từ bí mật đến công khai, từ đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang, nhiều tấm gương dũng cảm, những tên núi, tên bản, tên người đã đi vào sử sách: Đội du kích Pơ Tào, Hũ rượu Bản Lòm, dãy núi Pu Tên và những tên tuổi: Quách Công Đăm, Vì Văn Sam, và nhiều chiến sĩ khác… là chiến công đầu có ý nghĩa quan trọng và trở thành chiến công huyền thoại của nhân dân các dân tộc Mộc Châu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 20/11/1952 Mộc Châu hoàn toàn giải phóng, đó là mốc son lịch sử khẳng định quá trình chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến gian khổ, ác liệt, chống thực dân Pháp của cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu.

Về kinh tế:  Thực hiện sản xuất, tiết kiệm và phong trào khai hoang, phục hoá, làm thuỷ lợi, tích cực tăng gia, lao động sản xuất đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm hậu cần tại chỗ nuôi quân, với khí thế “tất cả cho tiền tuyến” nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu đã hăng hái thi đua lao động sản xuất đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch Tây Bắc. Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Mộc Châu đã tổ chức vận động nhân dân đóng góp được: 3.607 tấn gạo, 144 tấn thịt, 140 tấn rau xanh, huy động trên 21.670 lượt dân công và trên 500 thanh niên tham gia kháng chiến.

Về giáo dục, y tế: Đã tổ chức các lớp bình dân học vụ vào buổi tối, phát động phong trào xoá nạn mù chữ, cấp phát thuốc chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc, tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện những kiến thức vệ sinh ở  các bản làng, bài trừ các hủ tục lạc hậu.

3. Giai đoạn 1954 -1975

Sau Hiệp định Giơnevơ Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Miền Nam dưới ách thống trị của Mỹ - Ngụy; công tác dân tộc thời kỳ này cùng với cả nước tiến hành cải cách ruộng đất; thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”.

 Đảng bộ, đồng bào các dân tộc huyện Mộc Châu hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến với quyết tâm “tất cả cho tiền tuyến”, “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, lớp lớp con em các dân tộc huyện Mộc Châu đã lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tính từ năm 1965 đến 1969 toàn huyện đã tiễn đưa trên 2000 con em lên đường nhập ngũ. Nhân dân trong huyện đã đào đắp 19.600 hầm hố phòng không và đưa 250.000 lượt người đi dân công phục vụ hoả tuyến, xây dựng 11 công trình phục vụ chiến đấu như mở đường kéo pháo, đưa tên lửa vào các trận địa...

 Trong lao động sản xuất thông qua các phong trào như “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tiền tuyến gọi, Mộc Châu sẵn sàng”. Thực hiện có hiệu quả các khẩu hiệu “Bám chắc bản mường, không dời ruộng nương”, “Giặc đến là đánh, giặc đi lại tiếp tục sản xuất”. Qua các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc tiêu biểu như Anh hùng lao động Bàn Văn Mình - dân tộc Dao (bản Suối Lìn, xã Chiềng Khoa - nay thuộc xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu).

Sự nghiệp phát triển giáo dục - y tế - văn hoá, xã hội của huyện đã đạt được những kết quả đáng tự hào. Năm học 1970 - 1971, cả huyện Mộc Châu  mới có 200 lớp học ở cả 3 cấp học, với tổng số 8.916 học sinh, thì năm học 1972 - 1973 đã tăng lên 224 lớp học với tổng số trên 11.377 học sinh.

Công tác văn hoá - thông tin có những hình thức hoạt động thích hợp và phong phú, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, phát triển kinh tế và phục vụ chiến đấu của huyện nhà.

Công tác y tế, bảo vệ sức khoẻ, phong trào vệ sinh phòng bệnh được quan tâm tuyên truyền rộng rãi đã trở thành ý thức và hành động thường xuyên của mọi nhà, mọi người dân.

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp - chống Mỹ, huyện Mộc Châu đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều chiến công: Toàn huyện có 5.693 cá nhân được tặng huân chương kháng chiến; 2.210 Huy chương; phong tặng 2 danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng là người dân tộc thiểu số…Đảng bộ nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang.

4. Giai đoạn 1975 -1985

Bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu phấn khởi, hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh phát triển Kinh tế - xã hội, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Về giáo dục: Ngành giáo dục tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”, Năm học (1984-1985) toàn ngành giáo dục đã có 38 đơn vị trường học, 373 lớp học, với tổng số 14.937 học sinh, số học sinh lên lớp và thi cuối cấp đỗ trung bình 71,3%.

Ngành y tế: không ngừng được phát triển, thực hiên tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, tính đến năm 1985 toàn huyện có 25 trạm y tế xã và 2 bệnh viện đa khoa tuyến huyện.

5. Giai đoạn năm 1986 đến  nay

Huyện tập trung huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, Trong 5 năm (2004 - 2009) huyện đã huy động trên 420 tỷ đồng bằng nguồn vốn các chương trình, chính sách đầu t­ư, hỗ trợ cho các lĩnh vực: Giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, y tế, văn hoá, giáo dục. Đến nay 100% số xã trong huyện có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% số bản có đường xe máy đi được và 243/366 bản có đường ô tô. Hệ thống các công trình thuỷ lợi đã đảm bảo tưới tiêu 766,4 ha ruộng 2 vụ, 1.385 ha ruộng 1 vụ; số hộ dân được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và dùng điện lưới quốc gia đạt 78%; số hộ được xem truyền hình đạt 86%.

Công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật được quan tâm đầu tư, xuất hiện ngày càng nhiều những tập thể, cá nhân có mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi về phát triển kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng, cây ăn quả, chăn nuôi, hoa cao cấp ...Tiêu biểu là Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Hà Ngọc Quý dân tộc thái xã Tân Lập và hàng nghìn các hộ gia đình dân tộc thiểu số khác…

Sự nghiệp giáo dục: tiếp tục phát triển trong 5 năm (2003 - 2008), huyện đã đầu tư­ trên 82 tỉ đồng, đ­ưa tỷ lệ các phòng học đ­ược kiên cố hoá ở toàn huyện đạt trên 70%. Năm học 2009 - 2010, toàn huyện có 112 trường, với 2.518 lớp và 38.255 học sinh, trong đó có 27.483 học sinh là con em dân tộc thiểu số, chiếm 71,8%; 29/29 xã, thị trấn đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 28/29 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập THCS. Công tác dạy nghề cho thanh niên là ng­ười dân tộc trong 4 năm (2005 - 2008) đã tổ chức dạy nghề cho 1.553 thanh niên ng­ười dân tộc thiểu số.

 Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh, dịch nguy hiểm, hoàn thành kế hoạch cấp thẻ bảo hiểm y tế 100% cho đồng bào các xã ĐBKK. Toàn huyện có 29 trạm y tế xã, thị trấn, hai bệnh viện, một trung tâm y tế, một phòng y tế; 100% số trạm y tế xã có đủ điều kiện hoạt động; trạm y tế có bác sĩ đạt 55%; 97,4% số thôn, bản có nhân viên y tế;

Về lĩnh vực Văn hoá - xã hội: công tác bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc được chú trọng, đặc biệt, từ năm 2005 đến nay, huyện duy trì tổ chức Ngày hội văn hoá các dân tộc vào dịp Quốc khánh 02/9 nhằm tôn vinh, bảo tồn phát huy các nét văn hoá dân tộc đặc sắc và quảng bá thu hút du lịch. Tuyên truyền, vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại", năm 2008 có 24 bản và 18.884 hộ được công nhận Bản văn hoá, Gia đình Văn hoá.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi d­ưỡng đội ngũ cán bộ ngư­ời dân tộc thiểu số, trường PTDT nội trú được quan tâm, hàng năm tổ chức xét, cử tuyển học sinh dân tộc vào học các trư­ờng Đại học, Cao đẳng từ năm 2005 - 2009 toàn huyện có 109 học sinh được cử tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được quan tâm đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức vụ quan trọng của huyện.

Hệ thống chính trị ở các xã ĐBKK và vùng đồng bào dân tộc được củng cố. Số đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2011 thuộc ngư­ời dân tộc thiểu số là 706/787 đại biểu, chiếm 89,7%. Số cán bộ đang công tác tại các cơ quan của Đảng, các đoàn thể xã hội và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện thuộc người dân tộc là 67/216 người chiếm 31%; cán bộ cấp xã thuộc người dân tộc thiểu số là 490/579 người chiếm 84,6%.

 

                                        PHẦN THỨ BA

Những khó khăn và thách thức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

1. Kinh tế ở các xã ĐBKK và một số vùng có đông đồng bào dân tộc còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác lạc hậu, chất lư­ợng sản phẩm thấp. Kết cấu hạ tầng còn thấp kém.

2. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc trong huyện chưa đồng đều; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào vùng cao còn hạn chế. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan vẫn còn tồn tại. Một số bản sắc, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số đang bị mai một.

3. Hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc có một số nơi còn yếu; năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế, công tác phát triển Đảng chậm; cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi hoạt động ch­ưa hiệu quả.

PHẦN THỨ TƯ

Phương hướng nhiệm vụ công tác dân tộc thời gian tới

1. Công tác dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

2. Ưu tiên đầu tư­ phát triển kinh tế - xã hội các xã ĐBKK khu vực III, xã khu vực II có thôn, bản ĐBKK, tr­ước hết tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. 

3. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, làm tốt chính sách trợ giúp đồng bào dân tộc nghèo như: thiếu l­ương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm, không đủ tư­ liệu sản xuất; xây dựng kết cấu hạ tầng...

4. Xây dựng và thực hiện  chiến l­ược phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc; công tác quy hoạch, sắp xếp lại dân c­ư, nguồn nhân lực theo hướng hiện đại hoá và phát triển bền vững, gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng.

5. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các ch­ương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng c­ường các hoạt động văn hoá thông tin; giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp bản sắc văn hoá của các dân tộc.

6. Tiếp tục củng cố duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, giáo dục trung học cơ sở; phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi d­ưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc. Tăng cư­ờng đầu tư trang thiết bị y tế nhằm thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc và công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Quan tâm đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số.

7. Tăng c­ường tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cho mọi ng­ười dân về bảo vệ tài nguyên và môi tr­ường rừng, bảo vệ nguồn nư­ớc, chống xói mòn đất; quản lý việc khai thác tài nguyên khoáng sản, các công trình thuỷ lợi ở các xã ĐBKK và vùng dân tộc.

8. Củng cố và nâng cao chất lư­ợng hệ thống chính trị cơ sở ở, kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi d­ưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ.

9. Phát huy sức mạnh tại chỗ  để sẵn sàng đập tan âm mư­u phá hoại của các thế lực thù địch; không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội, kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộ, chống phá sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

10. Công tác cán bộ là  khâu then chốt để thực hiện chính sách dân tộc của  Đảng, là nhân tố quyết định trong công cuộc đổi mới ở địa phư­ơng. Vì vậy từ nay đến năm 2020 Huyện uỷ, UBND huyện cùng các xã và các cơ quan phải có kế hoạch cụ thể để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, có qui hoạch cán bộ của xã, của huyện và cơ quan, tập trung vào đào tạo cán bộ là ng­ười dân tộc thiểu số, phấn đấu đến năm 2015 số cán bộ người dân tộc thiểu số ở các xã 100% học hết cấp THPT; năm 2020 có 70% có trình độ đại học và 95% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên.

Kính thưa Đại Hội!

Trên đây là báo cáo tham luận của huyện Mộc Châu tại Đại hội các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất. Một lần nữa cho phép tôi được gửi lời kính chúc sức khoẻ các đồng chí Lãnh đạo Đảng Nhà nước, các vị Đại biểu, Khách quý, chúc Đại hội thành công tốt đẹp, xin chân trọng cảm ơn./.

- Họ tên: Giàng Khánh Ly

- Dân tộc: Mông

- Tuổi: 50

- Giới tính: Nữ

- Trình độ chuyên môn: Đại học (Nông nghiệp)

- Chức vụ hiện nay: Phó Chủ tịch UBND huyện Mường La


[C.V.T]

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Danh sách đại biểu tỉnh Sơn La dự Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam (02/2010)
  •  
  • Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số Việt Nam tỉnh Sơn La (12/2009)
  •  
  • Kế hoạch tổng thể tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam tỉnh Sơn La (11/2009)
  •  
  • Báo cáo tiến độ triển khai Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La (11/2009)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Phù Yên tỉnh Sơn La lần thứ nhất (11/2009)
  •  
  • Quyết định về việc thành lập Ban Tổ chức, các tiểu ban giúp việc Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La (11/2009)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Mộc châu tỉnh Sơn La lần thứ nhất (11/2009)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La lần thứ nhất (10/2009)
  •  
  • Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Mai Sơn: Đoàn kết, xây dựng quê hương giàu mạnh (10/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,889,421


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs