Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/02/2010
Giải pháp cho hướng phát triển Y tế miền núi Quảng Nam
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế, các vấn đề xã hội, an sinh xã hội cũng có những bước tiến triển mới, trong đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ở các huyện miền núi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được chú trọng. Người dân miền núi được tiếp cận các dịch vụ y tế ngày càng thuận lợi hơn. Việc đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho y tế ngày càng tăng. Hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế miền núi ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn, hạn chế về nguồn nhân lực; cơ sở vật chất; ý thức về bảo vệ và phòng chống bệnh tật trong nhân dân... Để khắc phục tình hình nói trên, chúng tôi đi sâu vào một số điển hình khó khăn về y tế trên địa bàn miền núi, từ đó đề xuất giải pháp cho vấn đề này.

Với đặc điểm 75% diện tích tự nhiên của tỉnh là địa bàn miền núi, có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số Cơ tu, Kor, Xê đăng, Giẻ Triêng… chiếm 6,8%; thu nhập bình quân đầu người/năm còn ở mức thấp, miền núi cao khoảng 1/4 mức thu nhập bình quân toàn tỉnh; tỉ lệ hộ đói, nghèo trong toàn tỉnh ở mức cao (26,65%), đặc biệt hộ đói nghèo tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi cao như: Nam Trà My, Bắc Trà My, Đông Giang, Tây Giang… của tỉnh. Với đặc điểm tình hình tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội có nhiều khó khăn như vậy, đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và chất lượng y tế miền núi Quảng Nam là điều tất yếu.

Khảo sát tình hình chất lượng dân số, y tế về đồng bào dân tộc Kor ở huyện Bắc Trà My và xã Tam Trà của huyện Núi Thành, cho thấy, cơ sở y tế ở những nơi này có chung thực trạng: không có bác sĩ, trang thiết bị y tế thô sơ, đội ngũ y tế yếu về năng lực chuyên môn… Cộng tác viên y tế, dân số thôn, bản thì hoạt động kém hiệu quả vì thiếu kiến thức, chính sách hỗ trợ hoạt động quá hạn hẹp. Đáng chú ý, nhận thức về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân địa phương rất hạn chế, trong 840 phiếu điều tra phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, có đến 80% người không hiểu biết về tiêm chủng mở rộng; 70% chị sinh con tại nhà hoặc ngoài rừng; 60% không hiểu biết về các biện pháp tránh thai; việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, phụ khoa; nuôi con bằng sửa mẹ… lại là những kiến thức hết sức mơ hồ đối với phụ nữ dân tộc Kor ở những vùng này.

Đến Nam Trà My, một huyện miền núi cao, với trên 90% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ hộ đói nghèo chiếm đến 65,51%, địa hình phức tạp, dân cư phân bố theo thôn, nóc rộng khắp, có nơi đi đến trung tâm y tế huyện phải mất cả ngày đường, vì vậy, hoạt động y tế cơ sở và hưởng lợi từ y tế của người dân địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Toàn huyện có 10 trạm y tế xã, có 52 cán bộ y tế, trong đó, trình độ sơ cấp chiếm đến 88,5% và chưa có trạm đạt chuẩn về y tế xã. Trang thiết bị thông thường và thuốc thiết yếu vẫn còn thiếu như: thiết bị cân sơ sinh, thiết bị khử trùng, dụng cụ khám thai… thuốc chống sốc dị ứng; thuốc chống co thắt phế quản, chống động kinh… Cán bộ y tế thôn, bản có 112 người, đảm bảo số lượng hoạt động nhưng trình độ còn rất nhiều hạn chế.

Trong 231 ý kiến của người dân (trong đó có 105 bà mẹ có con dưới 05 tuổi) ở 03 xã Trà Dơn, Trà Tập và Trà Nam (huyện Nam Trà My), có 97% ý kiến cho rằng, họ sử dụng nước sinh hoạt chủ yếu là nước suối mà không qua bất kỳ hình thức xử lý nào; 67% ý kiến của phụ nữ cho là mình không biết các dấu hiệu của bệnh phụ khoa. Trong vòng 2 tháng (4-5/2009), tỉ lệ trẻ em bị bệnh tiêu chảy chiếm 65,7%, bị ho, sốt 85,7% , trong khi đó, đa phần phụ nữ có trẻ dưới 05 tuổi của địa phương không biết những dấu hiệu nguy hiểm khi trẻ bị tiêu chảy hoặc ho, sốt để sớm đưa đến cơ sở y tế.

Thực tế, địa hình xa xôi, tập trung nhiều hộ nghèo đói và có đa thành phần dân tộc ở các huyện miền núi cao là một cản trở rất lớn về mặt tâm lý, ngôn ngữ cho các hoạt động của y tế phát triển. Vì còn là một tỉnh nghèo, địa phương quá khó khăn nên các chính sách thu hút nguồn nhân lực của tỉnh, địa phương dành cho y tế miền núi chưa đủ mạnh để cạnh tranh với sức hấp dẫn của cơ chế thị trường nơi đô thị, đồng bằng. Thêm vào đó, nguồn lực đào tạo, nhất là nguồn lực bác sĩ không đáp ứng được yêu cầu của hệ thống y tế toàn tỉnh, ngay cả các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện cũng đã thiếu hụt đến hàng trăm bác sĩ, vậy thì, y tế miền núi càng nói “không” với bác sĩ. Việc đào tạo cán bộ tại chỗ, đào tạo người địa phương để đảm bảo số lượng hoạt động y tế đã là khó khăn, nói đến yêu cầu đảm bảo chất lượng cho hoạt động y tế ở những vùng này lại càng khó khăn hơn.

Các chính sách 134, 135 về hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội cho nhân dân miền núi đã góp phần rất lớn cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tạo niềm tin rất lớn đối với người dân. Song, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo vốn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo mới chỉ là yếu tố “tạo điều kiện, phương tiện” cho sự phát triển, còn việc triển khai các chủ trương như “xã hội hóa giáo dục”, “xã hội hóa y tế”, “Làng văn hóa sức khỏe”, “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”… để thay đổi quan niệm, tư duy một cách tích cực cho sự phát triển đối với người dân nơi đây thì vẫn còn rất xa xôi, mờ nhạt. Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông hàng năm của con em miền núi quá thấp, vậy, miền núi, đặc biệt là miền núi cao lấy đâu ra người đủ điều kiện để dùng chính sách hỗ trợ, đào tạo nguồn lực cung cấp cho nhu cầu phát triển y tế địa phương.

Nói một cách khách quan nhất, muốn giải đáp bài toán y tế ở các huyện miền núi Quảng Nam, trước hết phải tìm phương pháp giải đáp bài toán giáo dục, bài toán nâng cao trình độ dân trí. Một khi, nền tảng giáo dục ở các huyện miền núi vững mạnh, chắc chắn quan niệm, tư duy để chăm lo cuộc sống, sức khỏe của người dân nơi đây sẽ có những bước tiến triển mới, đồng bào sẽ giảm “tự ti, mặc cảm”, đủ sức để vượt qua sự “trông chờ, ỉ lại” vào bao cấp bấy lâu nay. Thêm vào đấy, giáo dục phát triển, sẽ có nguồn lực đảm bảo để cung cấp cho nhu cầu phát triển giáo dục, y tế địa phương.

Nhưng, phát triển giáo dục, nâng cao trình độ dân trí làm bàn đạp cho phát triển y tế để đem lại “tính công bằng” trong chăm sóc sức khỏe ở các huyện miền núi không phải là chuyện một sớm, một chiều, càng không thể chỉ dựa vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước mà cần tập trung vào các trọng điểm sau:

Thứ nhất, cần tăng cường trách nhiệm, nâng cao vai trò của hệ thống chính trị các cấp trong việc điều hành, hoạch định chiến lược phát triển giáo dục gắn với chiến lược phát triển y tế miền núi của tỉnh; từng địa phương phải cụ thể kế hoạch và chương trình hành động cho khoảng thời gian thực thi nhất định (02 năm, 05 năm hay 10 năm). Qua đó, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp tục hoạch định để điều chỉnh những tồn tại, hạn chế và đưa ra giải pháp mới phù hợp.

Thứ hai, tập trung nguồn lực để xây dựng một xã hội học tập ngay tại các huyện miền núi (cho người dân cần gì học nấy, cần gì hỏi nấy). Chỉ có chính sách xã hội học tập mới làm cho đại bộ phận nhân dân ở những vùng này có điều kiện dần dần thay thế tư duy lạc hậu, an phận, trông chờ thành tư duy năng động, tự chủ hơn trong cuộc sống. Đấy là con đường nâng cao trình độ dân trí “ngắn nhất” có thể đối với thực trạng “tri thức” miền núi Quảng Nam.

Thứ ba, “nghề y là một nghề hết sức đặc biệt”, liên quan trực tiếp đến tính mạng, hạnh phúc của con người… vì vậy đào tạo cán bộ y tế cho miền núi (nhất là bác sĩ, nữ hộ sinh), nơi mà người dân đang cần đến “tính công bằng” trong chăm sóc sức khỏe thì không nên chỉ chú trọng đến số lượng để lấp đủ hệ thống y tế mà phải “đặc biệt” quan tâm đến một đội ngũ chất lượng, với quan điểm “ít nhưng hiệu quả”. Việc đào tạo cán bộ là người địa phương phải chọn được cán bộ loại ưu để đào tạo, với phương châm “mỏng nhưng mà chắc”, từng địa phương phải chú trọng tính phân bổ cán bộ hợp lý, đồng bộ. Đặc biệt, phải có cơ chế phối hợp với ngành giáo dục để chuẩn bị chọn nguồn lực địa phương ngay từ khối Trung học phổ thông, nhằm định hướng, tư vấn, thuyết phục để các học sinh chất lượng chọn con đường phù hợp phục vụ sự nghiệp chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho đồng bào mình.

Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội, thể hiện rất rõ tính khoa học, nhân đạo từ các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Các cấp lãnh đạo địa phương cần quan tâm chỉ đạo sâu sát, cụ thể để đồng bào miền núi được hưởng quyền lợi thiết thực, công bằng từ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Phạm Thị Điểm

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,932


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs