Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/02/2010
Cần một cách tiếp cận khoa học khi xây dựng Bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam
Công tác dân tộc là một hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực, có rất nhiều thông tin, số liệu liên quan đến các Bộ, ngành, địa phương trên địa bàn rộng lớn và Uỷ ban Dân tộc với vai trò giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải đóng vai trò chủ trì hoặc đồng chủ trì với các Bộ, ngành xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp với từng địa phương, từng dân tộc cụ thể. Hoạch định, xây dựng chính sách dân tộc là hoạt động vừa mang tính đúc kết thực tiễn và vừa mang tính lý luận trên nền tảng khoa học thống kê. Để chính sách được lập ra “trúng” và “đúng” đối tượng, có hiệu quả cao khi đưa chính sách vào cuộc sống thì ngoài kinh nghiệm thực tiễn, người lập chính sách cần dựa vào các thông tin thống kê về vùng dân tộc, tình hình thực hiện các chính sách dân tộc trên vùng dân tộc,... làm căn cứ so sánh, đánh giá điểm thiếu sót của các chính sách đã và đang triển khai, rút kinh nghiệm cho lập chính sách mới. Hiện tại, công tác thu thập, xử lý, quản lý thông tin thống kê tại ủy ban Dân tộc còn thiếu sự liên kết giữa các Vụ đơn vị trong ủy ban với bốn nguyên nhân chính chính sau đây:

Một là: Các thông tin mang tính chất số liệu gốc về công tác dân tộc chưa có do Uỷ ban Dân tộc chưa xây dựng được Bộ chỉ tiêu riêng để lồng ghép vào các cuộc điều tra cơ bản của Tổng cục Thống kê.

Hai là: Ngoài các thông tin dạng dữ liệu văn bản thì các báo cáo gửi về cho Uỷ ban Dân tộc thường chưa được quy chuẩn theo danh mục chỉ số thông tin và cơ sở dữ liệu hóa chỉ số thông tin thành các trường thông tin trên máy tính để tổng hợp, thống kê; Uỷ ban Dân tộc muốn có thông tin thống kê phải mất thêm một lần bóc tách, xử lý dữ liệu thành các chỉ số mong muốn. Ngoài ra, độ chính xác của thông tin báo cáo cũng đặt ra một dấu hỏi do không có công cụ để đánh giá ngược độ tin cậy của thông tin nhận được.

Ba là: Các hệ thống thông tin quản lý (cơ sở dữ liệu) hiện có của Uỷ ban Dân tộc như Cơ sở dữ liệu Văn bản về Lĩnh vực Công tác dân tộc trên Trang tin điện tử Uỷ ban Dân tộc, Cơ sở dữ liệu CemInfo tổng hợp kết quả 5 cuộc điều tra, Cơ sở dữ liệu thông tin tình hình thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II,... còn mang tính nhỏ lẻ, chỉ phục vụ một mục tiêu cụ thể và hạn chế sự kết nối trao đổi thông tin với nhau.

Bốn là: Thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong nội bộ Uỷ ban Dân tộc nằm ở nhiều nơi; mỗi Vụ, đơn vị nắm một ít và không có sự phối hợp trao đổi thông tin để xây dựng thành một kho dữ liệu chung, gây khó khăn trong quá trình tra cứu về sau.

Từ các tồn tại nêu trên cho thấy: ủy ban Dân tộc cần xây dựng một bộ dữ liệu chung làm cơ sở khoa học để hoạt quản lý nhà nước về công tác dân tộc có hiệu quả. Đây là một đòi hỏi tất yếu và đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ giao Uỷ ban Dân tộc trong giai đoạn 2006-2010.

Qua rất nhiều hội thảo khoa học xây dựng Bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam cho thấy đa phần các ý kiến đều đề xuất hướng tiếp cận là cố gắng xác định đầy đủ nhất các thành phần của Bộ cơ sở dữ liệu và tiến hành xây dựng các cơ sở dữ liệu thành phần theo các yêu cầu đã đặt ra. Tuy nhiên, đây cách tiếp cận “cứng” vì không thể xác định được một cách chính xác đầy đủ số lượng cơ sở dữ liệu thành phần tại thời điểm thiết kế mà có thể phục vụ được mọi nhu cầu trong tương lai. Do tính phức tạp của Bộ cơ sở dữ liệu là tính “động” cao, các mô hình thông tin thay đổi theo thời gian, theo nhu cầu của người sử dụng nên phải xây dựng Bộ cơ sở dữ liệu theo hướng “mềm”, bao gồm: dễ dàng thay đổi mô hình thông tin đầu vào; cho phép thay đổi các mẫu báo cáo thông tin đầu ra; lưu thông tin thay đổi theo lịch sử để có so sánh thông tin theo thời gian,... Trên cơ sở phân loại thông tin cho thấy Bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam trong tương lai có phát sinh bao nhiêu thì các thông tin cũng thuộc một trong hai nhóm:

- Thông tin dạng các bài viết, bao gồm: các bài viết giới thiệu; các chuyên đề; các chương trình, dự án; các văn bản trong lĩnh vực công tác dân tộc;

- Thông tin dạng chỉ số phục vụ đánh giá, giám sát quá trình phát triển của dân tộc, vùng dân tộc; thống kê theo nhu cầu của Lãnh đạo;

Trên cơ sở đó, Bộ cơ sở dữ liệu xây dựng khung hai cơ sở dữ liệu thành phần, bao gồm: cơ sở dữ liệu bài viết và cơ sở dữ liệu chỉ số. Hai bộ khung này phải mang tính “động” cao, cho phép mỗi lần thêm một cơ sở dữ liệu con thuộc 1 trong 2 khung trên hệ thống sẽ cho phép xác định các trường thông tin cụ thể của thông tin đầu vào, mẩu báo cáo thông tin đầu ra của cơ sở mới xây dựng. Vấn đề còn lại sau khi đã có phần mềm Bộ cơ sở dữ liệu là xây dựng quy trình tạo cơ sở dữ liệu thành phần theo nguyên tắc 3 bước:

Bước 1: Xác định yêu cầu cơ sở dữ liệu mới: Xác định các trường thông tin đầu vào; Xác định mô hình báo cáo đầu ra; Xác định mối liên kết giữa cơ sở dữ liệu mới với các cơ sở dữ liệu đã có; Phân quyền quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu mới.

Bước 2: Định nghĩa đầu vào, đầu ra, kết nối các cơ sở dữ liệu, phân quyền truy cập cho cơ sở dữ liệu mới trên phần mềm Bộ cơ sở dữ liệu.

Bước 3: Thu thập dữ liệu, nhập liệu, khai thác dữ liệu đã qua xử lý bằng phần mềm Bộ cơ sở dữ liệu.

Các đề xuất hướng tiếp cận và cách thức triển khai Bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam mới chỉ mang tính công nghệ và kỹ thuật. Để xây dựng thành công các Bộ cơ sở dữ liệu nói chung, Bộ cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng còn cần sự tập trung chỉ đạo của Ban Lãnh đạo và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan.

Hoàng Hải

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,899,520


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs