Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/02/2010
Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 và cơ chế tổ chức thực hiện đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Theo Báo cáo nghiên cứu mới nhất của UNDP hiện tại đang có 41 dự án và chính sách định hướng vào việc giảm nghèo. Báo cáo cũng nêu ra những thách thức đáng kể trong việc điều phối, lồng ghép các nguồn vốn giảm nghèo cũng như các can thiệp giảm nghèo ở cả cấp trung ương cũng như địa phương. Tuy vậy, các thách thức và khó khăn trong công tác giảm nghèo cũng xuất hiện đòi hỏi có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể khoa học để tìm ra những phương pháp tiếp cận khoa học hiệu quả hơn nhằm triển khai tốt hơn các chương trình, dự án giảm nghèo ở Việt Nam.


Tình trạng nghèo và chậm phát triển ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 được dự báo là sẽ tập trung ở các “túi nghèo”, “lõi nghèo” như vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang ven biển hay nghèo đô thị… Ngoài việc cần phải có sự thay đổi cơ bản về cách tiếp cận trong giảm nghèo, giai đoạn 2011 - 2015 cũng đặt ra những nhu cầu trong việc có cách làm mới, hướng đi mới trong việc kết hợp giữa giảm nghèo đơn thuần và giảm nghèo gắn với phát triển bền vững.

Tiếp tục các cam kết mạnh mẽ trong lĩnh vực giảm nghèo và phát triển xã hội, Chính phủ cũng đã và đang tiếp tục giao cho các bộ, ngành liên quan thiết kế và triển khai thực hiện các chương trình giảm nghèo có quy mô lớn và toàn diện như: Chương trình phát triển nông thôn mới, Chương trình Phát triển kinh tế xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn khu vực dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011 - 2015, Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a,… Trong số những chương trình lớn trên, ngoài Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a đã triển khai thực hiện được 1 năm trên địa bàn 62 huyện nghèo thì Chương trình Phát triển nông thôn mới với tổng vốn lên đến khoảng 74.000 triệu đồng đang triển khai rộng khắp trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết các chương trình, dự án vẫn tiếp tục dành các khoản hỗ trợ, đầu tư vào các lĩnh vực như: phát triển sản xuất, đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ đất đai, nhà ở, vốn tín dụng,… Thực tế trên khẳng định cần có sự điều phối tốt hơn giữa các can thiệp giảm nghèo ở các cấp khác nhau

Nhóm chuyên gia của UNDP trong Báo cáo tổng quan về các chính sách và dự án giảm nghèo hiện hành của Chính phủ Việt Nam đã phân tích cho thấy nhu cầu hết sức cần thiết trong việc hướng tới một Khung chương trình giảm nghèo toàn diện trong phạm vi cả nước để tập trung giải quyết một cách tổng thể vấn đề nghèo đói và phát triển bền vững của Việt Nam.

Từ thực tế trên, thay vì xây dựng một chương trình giảm nghèo cụ thể nhằm giải quyết vào một vấn đề cụ thể cần phát triển nâng tầm Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015 theo hướng xây dựng một Chiến lược Khung giảm nghèo và phát triển bền vững đảm bảo:

+ Bao phủ rông về phạm vi, đối tượng (đối tượng nghèo, đối tượng cận nghèo), đủ dài về thời gian (5 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm) đối với vấn đề giảm nghèo và phát triển bền vững chung của Việt Nam.

+ Xác định các tiêu chí phát triển theo từng kế hoạch thời gian (chu kỳ 5 năm) để giải quyết các vấn đề cụ thể theo lĩnh vực chuyên ngành của từng bộ, ngành chuyên môn theo định hướng giảm nghèo và phát triển bền vững.

+ Định hướng về cách làm, phương pháp tiếp cận phù hợp của từng thời kỳ, từng vùng đặc thù để tạo cơ chế điều phối chung nhằm triển khai thực hiện đảm bảo mục tiêu chung giảm nghèo.

+ Quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực bảo trợ xã hội và an sinh xã hội trong bình diện quốc gia để đảm bảo sử dụng công bằng thành quả của phát triển kinh tế.

Giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2011-2015: Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận trong giảm nghèo, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ giảm từ gần 60% năm 1993 xuống còn gần 16% năm 2006. Tuy nhiên, tộc độ giảm nghèo của các dân tộc thiểu số chậm hơn so với mức trung bình. Vào năm 2006, khoảng 52% hộ dân tộc thiểu số sống dưới mức nghèo khổ, trong khi đó tỷ lệ nghèo của nhóm Kinh và Hoa là gần 10%. Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số có xu hướng tăng liên tục theo thời gian. Năm 1993, chỉ có 18% số hộ nghèo là các hộ gia đình dân tộc thiểu số; con số này tăng lên đến 29% năm 1998, 39% năm 2004, và gần đây nhất là 47% năm 2006. Như vậy, dù các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 14,5% dân số cả nước nhưng đến nay các dân tộc thiểu số đã chiếm gần một nửa số hộ nghèo. Có thể nói, vấn đề nghèo đói trong tương lai ở Việt Nam sẽ chủ yếu là thách thức đối với các nhóm dân tộc thiểu số.

Cũng giống như thực trạng chung đối với vấn đề giảm nghèo trên bình diện quốc gia, hiện nay có rất nhiều chính sách và chương trình phát triển có hướng đến các nhóm dân tộc thiểu số. Tuy nhiện, rất khó để đánh giá một cách tổng hợp tác động của các chương trình hiện có đối với đời sống của hộ dân tộc thiểu số. Hơn nữa, đã xuất hiện tình trạng chồng chéo về chương trình, chính sách khác nhau dành cho các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở cấp địa phương. Thêm vào đó, những đầu tư giảm nghèo cho nhóm đối tượng dân tộc thiểu số trong thời gian qua mới chỉ giải quyết được những “đặc điểm” nghèo phổ biến với nhóm đa số. Thách thức phức tạp nhất trong hiểu biết hiện tại về nghèo đói của dân tộc thiểu số là nhận diện những nguyên nhân đằng sau sự khác biệt về hiệu quả thu nhập, bản chất của phát triển kinh tế xã hội từ các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau.

Trong bối cảnh trên, một chương trình tổng thể thống nhất đối với hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số trong thời gian tới để đảm bảo tập trung và thống nhất về mục tiêu, cách thức xác định ưu tiên, và đặc biệt là điều phối quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ theo nhiều hướng khác nhau là hết sức cần thiết. Quan trọng hơn là cần xem xét được cách tiếp cận phù hợp hơn đối với nhóm đối tượng đặc thù này. Tuy vậy, cách tiếp cận tự nó chưa đủ để tạo ra hiệu quả của những chính sách, những khoản đầu tư công của chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo và phát triển. Nhu cầu thực tế đòi hỏi phải có những can thiệp đặc thù đủ mạnh kết hợp với cơ chế, cách làm đặc thù dành cho nhóm đối tượng này như:

+ Xây dựng một chương trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể cho khu vực dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011-2015 và định hướng 2020. Tuy nhiên, các nội dung đầu tư cần tính đến sự khác biệt cơ bản và đa dạng của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau.

+ Phân cấp hoàn toàn theo hướng trao quyền tự chủ mạnh hơn nữa cho cấp cơ sở (tập trung vào cấp xã) để có thể có được các khoản đầu tư phù hợp, chính xác hơn với nhu cầu thực tế. Cấp trung ương, tỉnh, huyện chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ.

+ Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đặc thù theo hình thức “Quỹ tự quản” của xã đi đôi với tăng cường sự tham gia quản lý, giám sát của người dân, các tổ chức chính trị xã hội trong quá trình lập kế hoạch, triển khai thực hiện và giám sát.

+ Tiếp cận theo vùng, tiếp cận văn hóa trong tổ chức triển khai thực hiện. Nghiên cứu các mô hình, cách làm mới như tiếp cận chuỗi giá trị, sinh kế bền vững hay chuyển tiền mặt có hoặc không có điều kiện,…

+ Tiếp tục kêu gọi sự tham gia mạnh mẽ của các bên liên quan, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Huy động hiệu quả sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình triển khai thực hiện.

ThS. Hà Việt Quân

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,920


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs