Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Gia Lai: Làng Tái định cư thiếu nước, đói cơm

 22/01/2010

Mương dẫn nước vào đồng ruộng đã cạn khô.

Khi về khu tái định cư, người dân vẫn mong đợi cuộc sống sẽ được ổn định hơn nơi làng cũ. Họ chỉ mong có được một nơi ở tốt, một vùng đất canh tác ổn định. Thế nhưng đã bao năm rồi, cuộc sống của người dân làng mỗi ngày lại càng khốn khó. Thiếu nước sinh hoạt, thiếu đất sản xuất, cả làng lên rừng hái lá.

NHỌC NHẰN NƯỚC SINH HOẠT

Nằm cách thị trấn Kbang chừng 70 cây số, làng cách mạng Kon Von 1 (xã Đăk Roong, Kbang, Gia Lai) trông rất bề thế giữa đại ngàn những cánh rừng nguyên sinh. Đây là một làng tái định cư (TĐC) từ công trình thủy điện Vĩnh Sơn. Năm 2005 làng Kon Von 1 được di dời về khu ở mới này với tổng cộng 53 hộ dân người Băhnar. Khi về đây sinh sống, mỗi hộ dân được nhận 1 căn nhà xây theo mô hình nhà sàn truyền thống của người Băhnar với trị giá 50 triệu đồng lúc bấy giờ. Đi kèm theo mỗi căn nhà TĐC là một nhà vệ sinh và một bể chứa nước sinh hoạt. Theo thiết kế ban đầu, nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho khu TĐC này được dẫn về từ một hồ chứa trên núi. Thế nhưng, sau khi khu TĐC được đưa vào sử dụng, nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho người dân nơi đây không được chảy theo đúng thiết kế ban đầu. Cả làng “khô” nước sinh hoạt. Bí thế, Ban đền bù TĐC đã triển khai thực hiện phương án “chữa cháy” là đào giếng. Tuy nhiên, do tầng địa chất khu TĐC có nhiều đá, số giếng được đào cũng không thể đáp ứng đủ nguồn nước sinh hoạt cho người dân. Cả làng cũng chỉ có được 7 giếng nước. Nhưng rồi, những giếng có nước cũng chỉ sử dụng cho một số hộ xung quanh trong mùa mưa, còn mùa nắng thì giếng lại khô kiệt.

Chúng tôi tới làng Kon Von 1 vào thời điểm vừa ngớt mưa được hơn một tuần nhưng những giếng nước nơi đây đã bắt đầu khô cạn. Mỗi giếng nước ở đây chỉ đủ sử dụng để nấu thức ăn cho vài ba hộ gia đình xung quanh. Mọi nhu cầu còn lại về nước sinh hoạt đều phải trông chờ vào giọt nước của làng (giọt nước truyền thống của dân tộc). Chị Đinh Thị Thiết vừa cõng trên lưng một gùi nước nặng trĩu, hai tay bê một nhậu quần áo lom khom “bò” lên con dốc dựng đứng vừa nói với chúng tôi: “Nhà mình không ở gần giếng nên quanh năm đều xuống đây lấy nước. Nhiều hộ dân trong làng cũng phải xuống giọt tắm giặt và lấy nước uống. Mùa mưa, đường trơn khó đi lắm, nhưng biết làm sao được!”. Không nước nên số bể chứa nước thành nơi chất củi của bà con..

BẤP BÊNH ĐẤT ĐỊNH CANH

Cũng trong chương trình TĐC cho làng Kon Von 1, ngay từ những ngày đầu đến đây, mỗi hộ dân đều được cấp 1 sào đất ruộng trên cánh đồng ngay cạnh làng. Tuy nhiên, đã vài năm nay, cánh đồng tái định canh này cũng bị bỏ hoang, cây cỏ mọc um tùm. Còn người dân phải chèo thuyền vượt lòng hồ thủy điện về nơi gieo trồng trên những mảnh đất rẫy không bị ngập. Ông Đinh Văn Huyên (người dân làng TĐC) bộc bạch: “Khi ủi ruộng để cấp cho dân, xe ủi đã gạt đi hết lớp đất tốt nên cây trồng không thể mọc lên được. Dân làng đã trồng lúa nước, nhưng đất xấu quá, lại không đủ nước tưới nên đã chết hết. Sau này, nhiều người đã chuyển sang trồng đậu phụng, nhưng đậu cũng không có củ. Làng mình là làng cách mạng nên không thể đi phá rừng làm rẫy. Chỉ còn cách là về lại nơi ở cũ để tìm đất canh tác”.

Khắc phục tình trạng, Ban Quản lý TĐC đã triển khai phương án 2. Kế hoạch đào ao nuôi cá trên cánh đồng khô cằn này đã được thực hiện. Hàng chục ao cá đã được đào để cấp cho dân thay vì trồng lúa nước. Thế nhưng, những ao cá nơi đây cũng chỉ để “làm cảnh”. Ông Đinh Văn Thinh bức xúc: “Nước sinh hoạt còn thiếu thì lấy nước đâu mà nuôi cá. Ao cá nhà mình trên cao nên nước không vào được, chỉ có vài hộ nuôi được thôi”.

Được biết khi quy hoạch cánh đồng tái định canh, Ban Quản lý thủy điện Vĩnh Sơn cũng đã cho xây dựng một đập chứa nước và hệ thống mương máng để dẫn nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Thế nhưng, theo như những người dân ở đây cho biết, vào mùa khô, hồ chứa này hoàn toàn bị khô kiệt. Lượng nước trong hồ không đủ cấp nước cho vài ao nuôi cá. Ngay hôm chúng tôi đến, mặc dù lượng nước trong hồ còn khá lớn, song chỉ có mỗi con mương tiêu phèn là có được dòng nước yếu ớt từ hồ chứa chảy ra. Còn trên những con mương dẫn nước vào khu nội đồng thì không hề có đến một giọt nước. Có thể nói, người dân làng Kon Von 1 đã phải “dở khóc dở cười” khi về nơi ở mới này.

THIẾU ĂN, CẢ LÀNG ĐI HÁI LÁ

Những ngày ở lại đây, chúng tôi đã có dịp ghé thăm nhà một số hộ dân. Hầu hết những gia đình chúng tôi đến đều thiếu cái ăn. Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết nắng hạn và bão lũ nên những rẫy ngô, rẫy lúa ít ỏi của người dân gần như bị mất trắng. Gia đình ông Lê Đình Công đã mất rất nhiều công sức để trồng được 3 sào lúa rẫy bên làng cũ, nhưng rồi cũng chỉ thu hoạch được vỏn vẹn 2 bao lúa khô. Lo cho cái đói đang đến gần, 5 miệng ăn trong gia đình đành nhịn cả bữa sáng để tiết kiệm gạo. Mỗi ngày lên rẫy, vợ chồng ông chỉ mang theo 2 gói mì tôm để lót dạ, rồi tranh thủ thời gian nghỉ trưa để ra hồ thủy điện câu cá, hái rau mà phụ vào bữa ăn tối cho gia đình. “Ở làng này, nhà nào cũng thiếu gạo ăn, nhất là vào khoảng tháng bảy, tháng tám hằng năm, nhiều hộ phải sống nhờ vào lá rừng. Mai mốt hết lá rừng thì không biết phải sống bằng cách nào” – ông Lê Đình Công than thở.

“Đói đầu gối phải bò” cả làng đổ xô đi lên rừng sâu, vực thẳm tìm lan đất bán cho người chơi cây cảnh. Khi được hái về, các “con buôn” đến tận nhà để thu mua cả rễ lẫn lá với giá khá cao – 400.000 đồng/kg cây tươi. Mỗi ngày lên rừng hái lá, nếu gặp may thì cũng kiếm được vài ký, còn không thì chỉ vài ba lạng. “Lúc đầu tìm lan đất còn dễ, nhưng giờ thì khó tìm hơn rồi. Phải đi thật xa mới có. Thanh niên có sức khỏe mới có thể đi được” - ông Công cho hay.

Tuy nhiên, với xu hướng cây lan đất ngày một khan hiếm dần, đất canh tác lại không có, cuộc sống của những người dân nơi đây sẽ ra sao nếu Ban Quản lý TĐC và các cấp chính quyền không nhanh chóng có ngay giải pháp thực tế hơn.

Tiến Thành

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,635


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs