Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/01/2010
Đồng bào các dân tộc ở Bắc Giang phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày càng gắn bó, phát triển
Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều dân tộc cùng chung sống. Suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết, gắn bó chống chọi với thiên nhiên, giặc ngoại xâm, cùng chia sẻ niềm vui, giao lưu văn hoá, giúp nhau phát triển kinh tế. Trong công cuộc đổi mới hôm nay, đồng bào đang chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Dân cư ở tỉnh Bắc Giang là cộng đồng thống nhất giữa người dân bản địa với cư dân nơi khác chuyển đến, giữa dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số. Hiện nay toàn tỉnh có 20 dân tộc thiểu số với số dân gần 193 nghìn người, chiếm 12,4% dân số của tỉnh, phân bố chủ yếu ở huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang và Tân Yên. Trong những năm đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số đã tích cực đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp cách mạng, hăng hái thi đua sản xuất cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm cho tiền tuyến, trực tiếp tham gia chiến đấu, nuôi dưỡng quân đội trưởng thành; thực hiện xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh ủy đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển kinh tế-xã hội miền núi gắn với xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005, Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 với phương châm “Tập trung huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, nhất là đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ở miền núi”... Nhờ sự quan tâm đó, đồng bào các dân tộc luôn đoàn kết vượt qua khó khăn xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số có thành tích trong xây dựng và bảo vệ chính quyền, phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc. Đội ngũ già làng, trưởng bản người dân tộc thiểu số tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; nhiều người trở thành trung tâm đoàn kết các dân tộc; gương mẫu, hướng dẫn bà con thôn bản làm kinh tế, xoá đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như nỗ lực của đồng bào miền núi, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, đến nay toàn tỉnh đã huy động được 1.250 tỷ đồng (trong đó Chương trình 135 hơn 426 tỷ đồng) xây dựng 948 công trình hạ tầng; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư sản xuất cho các hộ nghèo, quan tâm công tác đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc, tăng cường tập huấn khuyến nông-khuyến lâm, văn hoá thông tin; trợ giúp pháp lý cho các xã và thôn, bản đặc biệt khó khăn... Đặc biệt, thực hiện Quyết định 134 của Chính phủ, từ năm 2004 đến nay, 3.659 hộ được hỗ trợ xây dựng nhà ở, gần 3 nghìn giếng nước, hơn 2 nghìn bể nước và 25 công trình nước sinh hoạt tập trung phục vụ gần 35 nghìn người. Vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số còn được đầu tư hơn 714 tỷ đồng từ các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, đồng bào dân tộc thiểu số đã phát huy tinh thần tự lực, phấn đấu vươn lên, sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ này. Truyền thống đoàn kết tương trợ, thương yêu, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc được phát huy trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Mô hình kinh tế trang trại vườn đồi, chăn nuôi hiệu quả cao xuất hiện ngày càng nhiều ở các xã miền núi, vùng cao. Sự nghiệp giáo dục-đào tạo, y tế, văn hoá có bước chuyển đáng kể. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được quan tâm thực hiện đạt kết quả cao; các thiết chế văn hoá được xây dựng, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao ở vùng dân tộc diễn ra sôi nổi. Qua thực hiện các chính sách về dân tộc, toàn tỉnh đã có 14 xã hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn I; 100% số hộ nghèo dân tộc được xoá nhà tạm; 98% số xã vùng dân tộc, miền núi, xe ô tô vào được trung tâm; 100% số xã và hơn 95% số hộ trong vùng được sử dụng điện lưới quốc gia; hơn 70% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; mức sống của đồng bào được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn giảm 5-6%/năm. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thường xuyên được củng cố. An ninh trật tự được giữ vững.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn những khó khăn, thách thức lớn đó là kinh tế chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trình độ tổ chức sản xuất và kỹ năng lao động lạc hậu. Kinh tế lâm nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá nhưng chưa bảo đảm cho số đông đồng bào sống và gắn bó với nghề rừng. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là 19 xã của huyện Lục Ngạn và Sơn Động, giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch về mức sống giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với nơi khác trong tỉnh còn cao. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chưa được bài trừ triệt để, bản sắc văn hoá của một số dân tộc thiểu số đang mai một, nhất là tiếng nói và trang phục. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số vùng còn yếu, thiếu cán bộ có trình độ, năng lực. Một số ít đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Khắc phục hạn chế này, công tác dân tộc thời gian tới tập trung xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết, chống biểu hiện cục bộ, gây chia rẽ; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, những người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách đối với đồng bào. Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh từng vùng đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái. Sử dụng có hiệu quả nguồn lực hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị quân đội đóng trên địa bàn được phân công giúp đỡ huyện nghèo, xã nghèo, đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, làm tốt công tác quy hoạch, sắp xếp phân bổ hợp lý dân cư, nhân lực theo hướng công nghiệp hoá. Trước mắt cần trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc khó khăn giải quyết những vấn đề bức xúc như thiếu lương thực, nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; thiếu đất ở và tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh thực hiện chương trình phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và các chương trình giáo dục ở miền núi, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là hệ thống trường dân tộc nội trú, khuyến khích mở rộng việc dạy tiếng dân tộc thiểu số trong gia đình, thôn bản, trường dân tộc nội trú. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho thanh niên, tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển vùng dân tộc thiểu số; tăng cường cơ sở vật chất khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; các hoạt động văn hoá thông tin hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số. Tăng cường bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra “điểm nóng” ở vùng dân tộc. Kịp thời đấu tranh, ngăn chặn âm mưu phá hoại, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, lợi dụng chính sách dân tộc, tự do tôn giáo, tín ngưỡng để chống phá sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng khối đoàn kết dân tộc vững mạnh góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.

Đỗ Xuân Bình
Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,217,155


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.1 secs