Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/01/2010
Nghiên cứu vấn đề chính sách trong văn hoá dân tộc
Nền văn hóa Việt Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp hài hòa của những tinh hoa văn hóa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Nền văn hóa này đã trải qua sự thử thách và khảo nghiệm của lịch sử trong quá trình giữ nước và dựng nước.

Khái niệm về văn hóa có rất nhiều định nghĩa, từ sau thế chiến thứ hai, một thời kỳ ồn ào, xáo động của các nhà văn hóa học bàn luận về vấn đề này, nhiều người đã nhận ra rằng phải có cách tiếp cận hệ thống về văn hóa có nhiều ưu điểm hơn cả. Văn hóa là cả một hệ thống tổng thể qui định con đường sống của mỗi dân tộc. Hệ thống này bao gồm toàn bộ những gì thuộc về tư duy triết học, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật văn học… Những gì thuộc về cơ tầng của xã hội như hôn nhân, gia đình, thân tộc, thích tộc, vai trò của cá nhân trong cộng đồng. Những gì thuộc về môi trường sinh thái, tài nguyên tái tạo và không tái tạo đảm bảo cuộc sống của mỗi dân tộc. Văn hoá thường được nhận biết trên các bình diện:

Hệ thống thứ nhất trước đây vẫn được sử dụng theo thuật ngữ “Văn hóa vật chất”, nhưng nội hàm chưa đủ nên có nhà nghiên cứu đã thay bằng thuật ngữ “Văn hóa đảm bảo đời sống”, trong đó có ăn, ở, mặc, đi lại, chữa bệnh, trang sức… cũng có người nêu thêm vấn đề chất lượng thông qua tuổi thọ, sức khoẻ dồi dào, dinh dưỡng đầy đủ.

Hệ thống thứ hai vẫn quen gọi là văn hóa tinh thần, nhưng với ngày nay trong thời đại khoa học-kỹ thuật, sự hiểu biết cần có học thức và các phương tiện thiết bị thông tin.

Hệ thống thứ ba thường được xét dưới dạng cấu trúc hoàn chỉnh. Bên cạnh đó có cả vấn đề chức năng, vì nếu không có chức năng thì cấu trúc không có sự vận hành. Vấn đề thân tộc, bản thân những quan hệ này là một hệ thống. Khi đưa vào những vấn đề liên quan tổng thể quan hệ nó sẽ trở thành các tiểu hệ thống tùy theo từng góc độ phân tích và lý giải. Ví dụ như cấu trúc các chùa chiền dù có bị phá hủy do nhiều lý do khách quan hay chủ quan, nhưng một khi những vận hành của chúng còn tồn tại thì nhân dân vẫn cứ xây dựng lại.

Việc xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độc đáo của 54 dân tộc trên đất nước ta là nhằm mục tiêu tạo nên sự phát triển bền vững. Nhưng làm thế nào tạo nên điều đó khi trên con đường phát triển, các dân tộc lại đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Trong các dân tộc thiểu số, có dân tộc chỉ với số lượng vài trăm. Tính phức tạp của sự đa dạng này đã dẫn đến những vấn đề mà trong công tác thực tiễn những năm qua chúng ta đã vấp phải hoặc chưa giải quyết thỏa đáng.

Thực tế đời sống ở nước ta cũng như một số nước qua các phương tiện thông tin đại chúng và thực tiễn sôi động sự phát triển của toàn cầu đã và đang nhắc nhở chúng ta không thể bằng lòng với một số nhận thức cũ, càng không thể sa vào chủ nghĩa thành tích. Phải đánh giá đúng nguyện vọng thiết tha của các dân tộc.Từ thực tế cuộc sống xã hội đang đặt ra nhiều câu hỏi cần sự giải đáp có căn cứ khoa học xuất phát từ các cứ liệu dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hoá nghệ thuât học, xã hội học…Để góp phần đắc lực xoá bỏ sự chênh lệch về đời sống giữa các dân tộc , từng bước nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc, các vùng sâu, vùng xa trong sự lựa chọn các định hướng phát triển.

Đối với một nước có nhiều dân tộc như nước ta, không chỉ đặt các câu hỏi chung chung như xưa đã từng làm là “có thể thế này hoặc thế khác” mà cần phải nghiên cứu sâu và hết sức cụ thể trong từng lĩnh vực của sự phát triển về nhiều mặt về vấn đề văn hoá các dân tộc thiểu số. Từ lĩnh vực tiếng nói, chữ viết, nạn mù chữ vẫn còn hiện hữu, bổ túc văn hoá, việc giảng dạy ở các trường đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, hệ thống các trường nội trú, trường dân nuôi và tri thức mới, đến lĩnh vực phong tục tập quán và việc bảo tồn, phát huy truyền thống, việc kế thừa di sản và tiếp thu, sáng tạo các công trình, tác phẩm mới.

Tất cả các vấn đề đó đang diễn ra một cách khách quan trong quá trình đổi mới xã hội và hội nhập quốc tế. Vấn đề đặt ra là muốn phát triển và có định hướng phát triển văn hóa các dân tộc phải có sự nghiên cứu một cách thấu đáo. Xưa nay nhiều người cứ hay đơn giản hóa, hễ cứ là người Kinh nghiễm nhiên anh hiểu văn hóa người Kinh, xem vài điệu múa của người Thái, người Ê đê, Chăm, Khmer, Lô Lô, Mông… lập tức coi đó là bản sắc văn hóa của các tộc người đó. Có dân tộc thích dùng sữa và các chế phẩm từ sữa, nhưng nhiều dân tộc khác không ưa dùng sữa. Có dân tộc coi áo váy trắng là thể hiện sự quý phái, sang trọng, nhưng không phải vì thế mà cứ khoác bừa lên người khác, làm cho họ ghê sợ, vì quan niệm của một số dân tộc đó là màu tang ma của những người chết bất đắc kỳ tử. Nhiều vấn đề hết sức tế nhị, xuất phát từ lòng tốt nhưng thiếu sự hiểu biết, do không nghiên cứu kỹ nên hiệu quả ngược lại. Về góc độ văn hóa, không thể dùng sự khác nhau đó mà đánh giá mức độ tiến bộ của mỗi dân tộc. Tinh hoa văn hóa là sự kết tinh qua quá trình thử nghiệm khốc liệt, chúng có cuộc sống độc lập, nhiều khi tồn tại bên ngoài hình thái kinh tế xã hội đương đại.

Cùng nghiên cứu và tìm cách giải quyết các vấn đề dân tộc và văn hóa dân tộc, tất nhiên, không thể tách khỏi phạm vi chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật.

Mọi vấn đề nảy sinh và phát triển đều theo quy luật của nó. Quy luật phát sinh, hình thành dân tộc gắn liền với quy luật phát triển của sức sản xuất xã hội và quan hệ sản xuất xã hội ở mỗi nước.

Quy luật ra đời, phát triển, hình thành của mỗi vấn nền văn hoá dân tộc là giao lưu, kế thừa, tiếp thu và sáng tạo, phát triển cái mới, cái có lợi thế cho sự tồn tại của cộng đồng.

Nếu nhìn một cách biện chứng như vậy thì chúng ta sẽ thấy sự tất yếu phải đổi mới, đổi mới một cách vững chắc trong đời sống xã hội của các dân tộc. Trong quá trình phát triển của lịch sử của các dân tộc đã có nhiều bài học kinh nghiệm. Dân tộc nào đó tuyệt giao đối với các dân tộc khác, quốc gia khác, dân tộc đó sẽ đứng yên tại chỗ hoặc thậm chí có nguy cơ diệt vong trong sự khép kín.

Cách nhìn về văn hóa dân tộc cũng vậy, một nền văn hóa của dân tộc này không có sự giao lưu với dân tộc khác, không có tiếp thu các yếu tố tiến bộ của một dân tộc khác, thì dù vốn văn hóa của dân tộc đó có phong phú đến dâu, cũng trở nên đơn điệu. Một dân tộc chỉ bằng với di sản của mình mà không tiếp thu di sản dân tộc khác, không chăm lo có đội ngũ văn hoá mới để sáng tạo công trình mới, tác phẩm mới thì dân tộc đó sớm muộn sẽ bị cạn kiệt vốn và sức sống sáng tạo văn hóa khó theo kịp cùng với sự phát triển như vũ bão của thời đại.

Nghiên cứu để tạo được tư duy và cách làm mới là để tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hoá tiến bộ loài người: là phát huy tính tích cực, sáng tạo của các dân tộc trong quá trình đổi mới thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Đảng và Nhà nước đã đề ra chính sách dân tộc từ giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ. Chính sách đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng tiến bộ đã tập hợp được các dân tộc cùng đứng lên giành lấy chính quyền về tay nhân dân và tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ chính quyền nhân dân và các thành quả của Cách mạng tháng Tám.

Khi đứng trước kẻ thù xâm luợc, Đảng ta đã giáo dục tinh thần đoàn kết, hết lòng yêu nước, tinh thần cứu nước, dẹp bỏ các thành kiến, xích mích, mâu thuẫn do lịch sử để lại.

Nhưng, có lẽ do đã có cách nghĩ và cách làm theo chủ quan, đơn giản hóa trong nhận thức hoặc nhận thức không đầy đủ về cách ứng xử văn hóa của một vài luận điểm về vấn đề giân tộc, nên đã có nơi đã để xảy ra một số vụ rắc rối không đáng có.

Quá nhấn mạnh đặc điểm của các dân tộc cũng làm nảy sinh tâm lý dân tộc hẹp hòi, gây nên sự kích động. Song, chỉ nhấn mạnh “tính chung”, thậm chí, các cách diễn đạt trong quá trình chỉ đạo cụ thể, sự bao sân, bao cấp đã gây nên những sự nhiễu loạn do quan niệm. Có nơi không muốn nhắc tới vai trò, tên gọi các dân tộc thiểu số, ngay cả người đa số ngại dùng từ “người Kinh” (cho là từ không khoa học) nên phải gọi là “ người Việt”, đây cũng là vấn đề của mầm mống gây nên sự tự ti dân tộc, có người đã suy luận và cho là mình không phải dòng giống Việt Nam! Vì tên “Việt” chỉ dành cho dân tộc đông nhất, dân tộc chủ thể. Không phải ngẫu nhiên mà Hiến pháp, điều lệ Đảng và nhiều bài nói của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp vẫn nói Việt Nam là quốc gia nhiều dân tộc. Điều 5 trong Hiến pháp 1981, ghi: “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị chia rẽ dân tộc.

Các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.

Nhà nước có kế hoạch xoá bỏ từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc về trình độ phát triển kinh tế và văn hoá”.

Như vậy, dẫu trình độ phát triển chưa đều nhau, Nhà nước ta vẫn khẳng định hai từ dân tộc đối với các nhóm dân tộc ít người. Đảng và Nhà nước không dùng mấy từ ngữ: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc để phân biệt trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, số dân… giữa 54 dân tộc đang chúng sống trên đất nước Việt Nam.

2. Hướng phát triển của các dân tộc thiểu số ở nước ta

a) Các dân tộc rất ít người như Pu Péo, Mảng, Brâu, Rơ Măm chậm tiến nhất, cũng đang được chính sách dân tộc nhằm xoá bỏ sự chênh lệch nhau, xoá bỏ nguồn gốc của sự mạc cảm, miệt thị lẫn nhau. Mấy chục năm qua, dân tộc nào cũng đang làm quen với chế độ chiếm hữu mới; hình thức quốc doanh, hình thức tập thể, doanh nghiệp…dù hiện nay, đang chung sống giữa nhiều thành phần kinh tế, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn chủ trương duy trì, củng cố từng bước thành phần kinh tế nhiều thành phần trong các dân tộc.

b) Người lãnh đạo các dân tộc thiểu số là Đảng cộng sản, không phải “thổ ty” “lang đạo” hay lý trưởng như thời kỳ phong kiến, chính sách của Đảng đã từng bước cảm hoá các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

c) Mối quan hệ mới giữa các dân tộc trong nước không còn sự khinh thị, chia rẽ nhau mà là tôn trọng nhau, đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau, cùng giữ nước, dựng nước. Quá trình củng cố mối quan hệ đó là quá trình đổi mới cách nghĩ cách nhìn con người; là quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi dân tộc phát huy mọi khả năng của mình để làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ được cả xã hội mới đang phát triển.

d) Tự nguyện đứng vào hàng ngũ các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội cũng như tham gia các tổ chức quốc tế đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

e) Các dân tộc cùng tồn tại hoà bình đi đôi với độc lập, tự chủ, bình đẳng. Cùng đối thoại không đối đầu và nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

3. Văn hoá là mục tiêu của cuộc sống con người

Văn hóa là tổng thể của các mối quan hệ trong cuộc sống, vừa là phương tiện truyền cảm, giáo dục con người các dân tộc. Những vấn đề bức thiết trong chính sách dân tộc là cần xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc ở miền núi với miền xuôi. Mỗi dân tộc được ổn định hướng sản xuất, kinh doanh, có mức sống không ngừng được nâng cao thì sẽ có điều kiện học hành và tổ chức đời sống văn hoá tinh thần,dần dần nâng cao kiến thức và sự hiểu biết cần thiết làm người công dân có ích và người có khả năng quản lý chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, từ các cơ sở.

Hướng đi lên của nhân dân các dân tộc thiểu số phải từ lĩnh vực kinh tế. Nhưng kinh nghiệm trong hơn sáu mươi năm qua là phải có sự hiểu biết, có tiềm lực, về thế mạnh, về vai trò của chính quyền các cấp cơ sở có phát huy được thì mới có thể phát huy mọi khả năng của quần chúng.

Chỉ có xoá nạn mù chữ cho những người lao động hay những lớp trẻ sắp bổ sung cho nguồn lao động thì nhân dân các dân tộc mới có “chìa khoá” mở “cửa đầu tiên của sự hiểu biết”. ở các tỉnh vẫn còn các trường bổ túc văn hoá, việc mở mang các trường phổ thông từ cấp cơ sở lên trung học, việc mở các loại trường dân tộc nội trú, vùng cao, trường vừa học vừa làm, việc tạo nguồn cho lớp công nhân lành nghề, cho đội ngũ trí thức mới trong các dân tộc thiểu số, mới có thể thành hiện thực.

Chính sách dân tộc trong lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật là nhằm không ngừng đưa các thành tựu của nền văn hóa mới đến đời sống nhân dân các dân tộc; là bảo vệ, phát huy các giá trị trong nền văn hoá truyền thống của các dân tộc; là tạo mọi điều kiện vật chất kỹ thuật, cán bộ cho các dân tộc tự tổ chức đời sống văn hoá lành mạnh của mình; là tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trong từng vùng và trong cả nước và khu vực.

Trong đời sống văn hoá, nhân dân các dân tộc cần được thông tin về tình hình quốc tế và thời sự chính trị, chính sách dân tộc; cần có sách báo để đọc; cần được nghe đài và xem truyền hình của dân tộc; cần được tổ chức nếp sống mới thích hợp với văn hóa truyền thống từng dân tộc.

Văn học các dân tộc gắn liền với tiếng nói (và một vài dân tộc có chữ viết). Văn học dân gian cần được tiếp tục sưu tầm, biên soạn, phiên dịch, xuất bản và phát hành rộng rãi. Văn học hiện đại tiến tới dân tộc nào cũng có người sáng tác được bồi dưỡng trở thành tác giả, để họ có thể tự viết ra những vở kịch, truyện, thơ của dân tộc bằng tiếng mẹ đẻ rồi dịch ra tiếng phổ thông, hoặc mỗi nhà văn hoá dân tộc có thể viết được cả chữ dân tộc mình và chữ phổ thông. Chính sách song ngữ cần được chính thức đặt ra và được thể chế hoá thì việc viết, in, biểu diễn sân khấu, nói trên đài phát thanh, thi cử… Mới được pháp luật bảo đảm.

Nghệ thuật biểu diễn (ca múa, nhạc, kịch, xiếc…) nghệ thuật tạo hình (tranh, tượng điêu khắc, vẽ, thêu thùa, đan lát…) cần được giúp đỡ bảo tồn vốn cũ và sáng tạo cái mới. Nghệ thuật điện ảnh cũng cần được kết hợp hài hoà giữa các giá trị, truyền thống, sắc thái của mỗi dân tộc với ngôn ngữ điện ảnh hiện đại khi xây dựng các loại hình phim mới.

Tư tưởng chỉ đạo đặt chính sách và quá trình thực hiện chính sách dân tộc trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật là phải nghiên cứu, thể nghiệm các phương pháp kết hợp hài hoà giữa tính chung của cả nước và tính riêng của mỗi vùng mỗi dân tộc.

Quan điểm của Đảng đã ghi trong Nghị quyết số 5 của Bộ Chính trị: “…Cần kết hợp hài hoà và nâng cao tinh hoa đặc sắc của các dân tộc anh em trên đất nước ta, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật hiện đại của thế giới. Có như thế, văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới phát triển rực rỡ và đóng góp xứng đáng vào nền văn hoá chung của nhân loại”.

Tính chung trong văn hóa, văn nghệ các dân tộc thiểu số, là chung một Tổ quốc, chung một chế độ xã hội chủ nghĩa, chung một Đảng cộng sản lãnh đạo, chung một chính quyền Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chung một lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, chung một học thuyết Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh những tính chung, nền văn hoá, văn nghệ các dân tộc có tính riêng: tiếng nói, chữ viết riêng; phong tục tập quán riêng; bản sắc văn hoá riêng trong lối sống, lối ứng xử, trong tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia đình, lễ cưới, lễ tang, ngày giỗ, ngày tết, ngày hội, văn học, nghệ thuật riêng, nguồn gốc, lịch sử hình thành cùng có cái riêng.

Mọi công tác trong việc thực hiện các phương thức nghiên cứu là để tạo ra được mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng là mối quan hệ phát triển biện chứng.

Tính chung tôn trọng tính riêng, được đa dạng bởi các tính riêng hòa hợp lại. Vì vậy, chúng ta không áp đặt, độc đoán, đồng hoá cưỡng bức các tính cách riêng. Cái riêng không đối lập tính chung mà bổ sung cho tính chung cùng phát triển. Sự bổ sung cho nhau cùng phát triển đã được các dân tộc tạo dựng trong lịch sử qua các mối quan hệ hôn nhân, giao lưu văn hóa, mối quan hệ thân thiện có đi có lại trong giao tiếp và ứng sử…

Trong những năm qua việc thực hiện các chương trình dự án, một số người khi đưa khoa học-kỹ thuật vào vùng các dân tộc thường chỉ thấy phần của mình đưa tiến bộ đến để khắc phục những mặt lạc hậu, cho nên hay coi thường những hiểu biết của người dân địa phương, làm theo kiểu trên áp xuống. Trong nội bộ dân tộc cũng có những người có học, hiểu biết rộng nhưng lại quay sang phủ định những kiến thức của nhà nông. Giữa các dân tộc cũng vậy, dân tộc có trình độ kinh tế khá hơn lại xem nhẹ những kinh nghiệm của các dân tộc láng giềng có điều kiện kinh tế kém hơn mình. Đó là những biểu hiện làm cho mọi người xa lánh nhau, không nhìn nhận văn hóa của mọi tộc người để làm phong phú cho chính mình, không nhận thức được tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc là kho tàng chung của nhân loại.

Cần lưu ý đến văn hóa của từng vùng dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy tinh hoa văn hóa của các dân tộc. Sự phát triển phải dựa vào việc bảo vệ các cấu trúc, chức năng và tính đa dạng của hệ thống văn hóa từng vùng dân tộc, vì nó là một giải pháp trong việc phát hiện, sưu tầm, nghiên cứu, tổng kết những tinh hoa văn hóa ở các dân tộc nhằm khích lệ các dân tộc vững tin vào sự đóng góp cho kho tàng chung của văn hóa Việt Nam.

Lịch sử đã sang trang và thay đổi theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, đã đến lúc phải xác định đúng đắn sự tác động hai chiều trong việc thực hiện chính sách văn hóa dân tộc từ cái chung đến cái riêng và ngược lại từ cái riêng đến cái chung để biến văn hóa các dân tộc trở thành động lực phát triển kinh tế-xã hội vùng các dân tộc thiểu số.

TS. Lò Giàng Páo
Phó Viện trưởng Viện Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,217,123


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs