Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 13/01/2010
Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong xây dựng chính sách dân tộc


Điểm bưu điện - văn hóa Tu Lý, huyện Đà Bắc (Hòa Bình) cung cấp sách báo, trao đổi thông tin cho bà con dân tộc.

Quản lý nhà nước về xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc là một trong những nội dung quan trọng của quản lý và phân cấp quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Làm sao để có chính sách tốt, làm sao để thực hiện chính sách đáp ứng yêu cầu mục tiêu, nội dung chính sách đề ra trong lĩnh vực công tác dân tộc nếu không nói đến vai trò tiên quyết của hoạt động quản lý nhà nước.

Nước ta là quốc gia đa dân tộc. Các dân tộc nước ta phát triển không đồng đều. Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo, quản lý đất nước nhằm để các dân tộc rút ngắn khoảng cách phát triển, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Chính sách dân tộc là một trong những hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về công tác dân tộc trong từng thời kỳ cách mạng ở nước ta.

Chính sách dân tộc có tính tổng hợp các quan điểm, nguyên tắc, giải pháp vì nó liên quan đến các lĩnh vực (kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, cán bộ, an ninh, quốc phòng…) trong nhu cầu phát triển của các dân tộc. Mục tiêu, nội dung của chính sách dân tộc hương tới là: Đảm bảo sự bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, tiến bộ, phát triển của các dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng…Tuy nhiên việc xây dựng chính sách dân tộc theo tinh thần trên không phải hoạt động bình thường như một số chính sách khác. Do bản chất của đối tượng hưởng thụ chính sách, do tính liên ngành, đa lĩnh vực của công tác dân tộc nên để có một chính sách dân tộc tốt không phải là việc làm giản đơn trong quá trình xây dựng mà còn cả trong vấn đề hoạt động quản lý nhà nước.

Cơ quan chủ trì xây dựng chính sách dân tộc lâu nay là ủy ban Dân tộc với sự tham gia nhiều bộ ngành hữu quan. Vai trò cuả quản lý nhà nước trong xây dựng chính sách dân tộc là hệ thống các hoạt động định hướng, điều hành các quy trình thu thập thông tin, xây dựng nội dung, hội thảo, tổ chức xin ý kiến, hoàn thiện và trình cơ quan chức năng ký, ban hành. Chất lượng của một chính sách tùy thuộc vào quy trình, năng lực và chất lượng quản lý các hoạt động trên.

Chính sách ở đây được hiểu là những hệ thống chính sách, luật pháp do Nhà nước ban hành, bao gồm cả các chính sách theo lĩnh vực chuyên ngành, phạm vi điều chỉnh mang tính quốc gia. Ví dụ như chính sách phát triển nông lâm nghiệp, y tế, giáo dục, tài chính… Bên cạnh đó là một số chính sách ban hành áp dụng cho khu vực miền núi, dân tộc thiểu số là khu vực mang tính đặc thù.

Chính sách ưu tiên phát triển được thể hiện thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ của nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội cho các vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, như Chương trình 135, 134... hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn… Thực hiện chính sách dân tộc, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc, vùng khó khăn là một bộ phận hữu cơ, lợi ích sống còn, bảo đảm sự ổn định, không thể tách rời với sự phát triển chung của quốc gia, cả về khía cạnh kinh tế và chính trị.

Thực hiện chính sách dân tộc còn thể hiện mục tiêu công bằng xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghiệp cách mạng giành, giữ nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự phát triển của các dân tộc luôn gắn với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước ta. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đó đều được ghi trong các Văn kiện đại hội Đảng qua các thời kỳ.

Quản lý vấn đề dân tộc là một trong những nội dung được chú ý ngay trong văn bản pháp luật cao nhất là Hiến pháp, cũng như trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội, Chính phủ. Luật tổ chức Quốc hội cũng quy định sự có mặt của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội trong cơ cấu tổ chức. Luật tổ chức Chính phủ quy định nhiệm vụ cụ thể Chính phủ phải làm về lĩnh vực dân tộc. Đó là những cơ sở để xây dựng, hoàn thiện và thực thi chính sách dân tộc.

Xây dựng chính sách dân tộc là một nội dung quan trọng của việc hình thành các chính sách và tác động của nó đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ thực tiễn chính sách dân tộc ở nước ta thời gian qua, chúng ta có thể nhận thấy chính sách dân tộc được xây dựng dựa trên các cơ sở và nguyên tắc cơ bản sau:

Việc quản lý hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta được đặt trong điều kiện cụ thể. Các cơ quan chức năng với vai trò, nhiệm vụ của mình tiến hành việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc đều phải căn cứ trên những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý nhất định. Chính sách dân tộc là một bộ phận cấu thành thể chế chính sách nhà nước, thể hiện bản chất của nhà nước, của chế độ, tính hiệu lực, hiệu quả, tính phù hợp. Do vậy, việc xây dựng chính sách dân tộc phải đảm bảo trên cơ sở các định hướng:

Dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc;

Dựa trên quan điểm của Đảng về công tác dân tộc;

Căn cứ đặc điểm cơ bản của các dân tộc ở nước ta như: Cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư trú xen kẽ, phân tán, trình độ phát triển không đồng đều…

Bám sát mục tiêu cách mạng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn: Giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập phát triển…

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc trên nhiều mặt của đời sống, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số.

Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, như một bộ phận cấu thành sự nghiệp phát triển của đất nước.

Nội dung của chính sách dân tộc vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính lâu dài.

Từ thực tiễn những năm vừa qua, nguyên tắc xây dựng chính sách dân tộc còn có những quan niệm khác nhau. Song nhìn chung, chúng ta có thể thấy có những nguyên tắc cơ bản sau:

Xây dựng chính sách dân tộc phải đảm bảo thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Thể hiện một cách đầy đủ: Quyền bình đẳng về chính trị; quyền bình đẳng về kinh tế; quyền bình đẳng về văn hoá-xã hội; đoàn kết giữa các dân tộc, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Trong đó, quyền bình đẳng về kinh tế được xem là nền tảng cơ bản, đoàn kết giữa các dân tộc là bản chất cốt lõi của chính sách dân tộc.

Chính sách dân tộc phải đảm bảo đoàn kết giữa các dân tộc. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của việc xây dựng nội dung chính sách (dù trong giai đoạn lịch sử nào) và thực hiện chính sách dân tộc. Nếu chính sách dân tộc không tạo ra hiệu quả đoàn kết thì không những không đạt yêu cầu đề ra mà còn phản tác dụng, sai mục đích.

Chính sách dân tộc phải tạo ra sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Đây cũng vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của việc xây dựng nội dung chính sách và thực hiện chính sách dân tộc. Cùng với nguyên tắc bình đảng và đoàn kết, nội dung này góp phần tạo ra hệ quả cho các nguyên tắc trên và các nguyên tắc trên lại tạo tiền đề cho nguyên tắc này.

Chính sách dân tộc phải đảm bảo đối tượng thụ hưởng là đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và các dân tộc nói chung. Chính sách dân tộc trước tiên nhằm vào đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, là những đối tượng thiệt thòi và kém cơ hội phát triển hơn cần được giúp đỡ. Bên cạnh đó, đồng bào Kinh sinh sống ở những vùng khó khăn, người nghèo cũng cần được trợ giúp, không phân biệt, để tạo nên sự hoà hợp, đoàn kết, tránh những mâu thuẫn nảy sinh.

Xây dựng chính sách dân tộc phải phát huy dân chủ và khuyến khích người dân tham gia trong quá trình quản lý phát triển kinh tế-xã hội. Đây là xu thế phát triển của xã hội dân chủ, tiến bộ. Sự tham gia của người dân sẽ góp phần củng cố quyền làm chủ về mặt chính trị, đồng thời làm tăng hiệu quả thực hiện chính sách do tạo được sự đồng thuận cộng đồng, phát huy được yếu tố tự lực, tự cường trong đồng bào các dân tộc.

Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc phải mang tính liên ngành. Xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn diện vùng dân tộc trên thế mạnh về tiềm năng và những đặc điểm kinh tế-xã hội cũng như mục đích của chính sách dân tộc, nên chính sách phải mang tính liên ngành và cần phải được quán triệt trong tất cả các ngành, các lĩnh vực. Phối hợp trong các chương trình phát triển cơ sở vật chất, nâng cấp hạ tầng, cải tiến cơ cấu tổ chức và các dịch vụ hỗ trợ văn hoá, y tế và phát triển nguồn nhân lực…

Bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa quá trình xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong quản lý để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách phải tuân thủ theo những quy định của chính sách và văn bản hướng dẫn để chính sách đi vào cuộc sống đúng theo những mục tiêu của nó. Mặt khác qua tổ chức thực hiện sẽ đánh giá, phát hiện những vướng mắc, những vấn đề nảy sinh để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cũng như làm cơ sở đề xuất chính sách mới phù hợp cho giai đoạn phát triển mới.

Theo các quan niệm gần đây, quy trình xây dựng chính sách bao gồm các bước, các khâu cần thiết từ khi bắt đầu xây dựng chính sách đến khi điều chỉnh chính sách hoặc xác lập mới.

Quy trình chính sách phải trải qua các bước cơ bản sau:

- Xây dựng và ban hành chính sách, đánh dấu bằng việc ban hành văn bản pháp luật hoặc pháp quy thể hiện bằng các Luật, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… Các cơ quan chức năng căn cứ vào quy trình cơ bản đó để vận dụng vào tình hình cụ thể, nhu cầu cụ thể để tổ chức xây dựng chính sách chung hoặc theo lĩnh vực đáp ứng nhu cầu thực tiễn đề ra. Định hướng những nội dung xây dựng chính sách là một bước trong quy trình quản lý nhà nước đối với việc xây dựng chính sách nói chung và chính sách dân tộc nói riêng. Để cho một chính sách ra đời về cơ bản phải tuân thủ các quy trình sau:

Xác định vấn đề cần xây dựng chính sách: Từ việc phân tích những vấn đề, sự kiện trên cơ sở căn cứ đường lối chủ trương chung của Đảng, Nhà nước, những kết quả nghiên cứu, dự báo sẽ xác định vấn đề và mục tiêu chung cần giải quyết. Việc vấn đề đó có được xem xét lựa chọn để trở thành vấn đề cần phải ban hành chính sách nhằm định hướng, thúc đẩy, điều chỉnh trong tiến trình phát triển hay không còn phụ thuộc vào nhận thức, quan điểm của bộ máy tham mưu và sự quyết định của người có thẩm quyền.

Cơ quan được giao chủ trì xây dựng chính sách (hoặc cơ quan được giao nghiên cứu) cần tiến hành khảo sát, điều tra thực tế, thu thập những thông tin cần thiết để nhận định đánh giá vấn đề đã được xác định. Có thể là công việc hoàn toàn mới, cũng có thể là kế thừa những kết quả đã có, nhưng phải bảo đảm tính cập nhật mới. Trên cơ sở tập hợp những thông tin, xử lý thông tin và lựa chọn những vấn đề/mục tiêu cụ thể và nội dung ưu tiên của chính sách, xây dựng và lựa chọn phương án tối ưu chuẩn bị cho việc dự thảo chính sách.

Dự thảo nội dung chính sách là bước quan trọng trong quy trình xây dựng chính sách. Nội dung đó phải thể hiện rõ ràng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính sách, tổ chức thực hiện… bảo đảm tính phù hợp, thực tế, tính toán, cân nhắc, lường trước những vấn đề sẽ nảy sinh... Trên cơ sở dự thảo, sẽ được gửi lấy ý kiến đóng góp cả về nội dung và hình thức để bảo đảm tính hợp lý, hợp quy của nó. Việc tiến hành không chính thức thông qua các cuộc họp, hội thảo, hội nghị hoặc chính thức bằng con đường văn bản hành chính (ở cấp Trung ương và có thể cả ở cấp địa phương). Các cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Giáo dục, Y tế, Tư pháp… là những cơ quan thường tham gia vào quy trình xây dựng chính sách dân tộc. Riêng Bộ Tư pháp thực hiện vai trò thẩm định tính pháp lý.

Sau khi tổng hợp kết quả góp ý bằng văn bản chính thức, có sự nhất trí cao của các cơ quan hữu quan, dự thảo nội dung chính sách sẽ được trình người có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng, nếu được giao uỷ quyền) xem xét, quyết định ban hành chính sách. Thời điểm ban hành chính sách cũng liên quan đến khả năng tài chính, nguồn lực quốc gia có thể đảm bảo cân đối được.

- Thể chế hoá chính sách, là việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoá chính sách như thông tư, chỉ thị hoặc quyết định về những nội dung thành phần được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền (Bộ, ngành) ở Trung ương.

- Tổ chức bộ máy và cơ cấu thực hiện chính sách: Việc tổ chức thực hiện cần có bộ máy, con người cùng các quy định về quan hệ và chế độ làm việc được hình thành cả ở cấp trung ương (cơ quan thường trực chính sách) và địa phương (cấp tỉnh, huyện) để tiếp nhận triển khai công tác điều hành, quản lý.
- Chỉ đạo thực hiện chính sách: Trên cơ sở bộ máy và nhân sự được xác lập, thực hiện công tác điều hành, điều phối các công việc bảo đảm theo đúng mục tiêu, kế hoạch và tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách. Công tác chỉ đạo trực tiếp theo sự phân cấp, có cả ở cấp Trung ương (chỉ đạo ở tầm vĩ mô) và địa phương (tầm vi mô) thông qua các văn bản hành chính.

- Kiểm tra giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách, là khâu bắt buộc để tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực thi chính sách, phát huy kịp thời những mặt mạnh và uốn nắn hoặc giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Việc kiểm tra, đánh giá là một quá trình xuyên suốt, được tiến hành liên tục, thường xuyên ngay cả từ bước hoạch định và thực thi chính sách.

- Điều chỉnh , bổ sung, hoàn thiện chính sách: Qua kiểm tra, đánh giá thấy tồn tại những vấn đề trở ngại lớn, hoặc có những điểm không phù hợp, cần kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện nội dung chính sách. Công việc này do cấp ban hành chính sách tiến hành.

Việc xây dựng chính sách đòi hỏi quy trình chặt chẽ, tính khoa học cao và đặc biệt phải đạt được sự đồng thuận của các cơ quan quản lý. Cơ sở thông tin, dữ liệu cơ bản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc xây dựng chính sách. Chính sách dân tộc những năm qua về cơ bản cũng đáp ứng được những yêu cầu theo quy định chung đó. Tuy nhiên đi vào từng vấn đề cụ thể thì còn nhiều điểm phải tiếp tục hoàn thiện.

Quản lý nhà nước về xây dựng chính sách dân tộc là vấn đề ít được bàn đến trong công tác dân tộc và quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong những năm gần đây ở nước ta. Đây là vấn đề đang đặt ra cả về lý luận và thực tiễn do bản chất công tác dân tộc liên quan đến nhiều vấn đề trong đời sống xã hội tác động đến đời sống và nhu cầu phát triển của đồng bào các dân tộc. Những vấn đề đặt ra trong bài viết này không có tham vọng giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ bước đầu đề cập và nêu vấn đề cần thiết để tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và phân cấp quản lý nhà nước trong công tác dân tộc.
Trong quản lý xây dựng chính sách dân tộc cần quan tâm các vấn đề sau:

- Phát huy vai trò của cơ quan đầu mối về công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước (ủy ban dân tộc) trong việc tổ chức xây dựng và nâng cao chất lượng chính sách đảm bảo các quy trình xây dựng chính sách.

- Nâng cao năng lực đội ngũ chuyên viên trong hoạt động xây dựng chính sách đủ tầm và phù hợp với yêu cầu của công tác dân tộc liên quan đến các lĩnh vực đời sống và nhu cầu phát triển của đồng bào các dân tộc.

- Đào tạo bồi dưỡng xây dựng đội ngũ có tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực quản lý nhà nước ở các cơ quan trung ương (Uỷ ban Dân tộc, các bộ, ban, ngành...), các địa phương tham gia vào quá trình xây dựng chính sách dân tộc.

- Nâng cao năng lực xây dựng văn bản pháp quy, năng lực tham mưu tư vấn và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, các cơ quan chức năng liên quan và chính quyền các cấp trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

- Về những tiếp cận trong việc xây dựng năng lực cấp cơ sở ở vùng dân tộc: Phương pháp tiếp cận phát triển có sự tham gia của người dân được xem là tư tưởng chủ đạo trong các hoạt động phát triển cộng đồng và là một quá trình liên tục. Người dân đóng vai trò là trung tâm của sự phát triển. Với mục tiêu cơ bản cần đạt tới là từng bước thay đổi những nhận thức và giá trị, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

- Phân cấp quản lý và tăng cường vai trò, sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội địa phương. Hệ thống quản lý ở cơ sở bao gồm cơ quan hành chính địa phương (cấp xã) và mạng lưới các tổ chức đoàn thể như tổ chức đảng, đoàn thanh niên, phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc. Nhiều địa phương thông qua các dự án đã áp dụng mô hình quản lý bằng việc thiết lập các ban quản lý cấp xã, thôn bản. Các tổ chức này có được nhiều quyền hơn trong việc xác định những nhu cầu ưu tiên, chủ động lập kế hoạch, quản lý chi tiêu ngân sách với một cơ chế thủ tục đơn giản, lấy sự công khai minh bạch trong nhân dân làm nguyên tắc hàng đầu.

Tóm lại, cơ sở khoa học của việc quản lý và xây dựng chính sách dân tộc là vấn đề tưởng chừng quen thuộc nhưng có thể nói còn nhiều vấn đề tiếp tục đặt ra trong công tác dân tộc hiện nay ở nước ta. Đây là vấn đề rất cần có sự tham gia của các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản về dân tộc học quản lý hành chính nhà nước, các nhà quản lý về công tác dân tộc, các ngành hữu quan ở Trung ương và địa phương. Trước yêu cầu công tác dân tộc trong giai đoạn mới đến 2015 và 2020 đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đặt ra đối với những người làm công tác dân tộc, các nhà khoa học đối với sự phát triển, hội nhập của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam.

PGS. TS Lê Ngọc Thắng
ThS. Trần Cẩm Tú

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,278,209


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs