Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/12/2009
Thực hiện Nghị quyết 30a ở Tân Sơn: Động lực mới để vươn lên thoát nghèo
Nghị quyết 30a/CP của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo trong cả nước ra đời, tạo động lực, cơ hội thuận lợi để đẩy nhanh việc xoá đói giảm nghèo cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Ngay sau khi Nghị quyết 30a/CP có hiệu lực, Uỷ ban nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo của huyện, tổ chức quán triệt, triển khai nội dung Nghị quyết kịp thời từ huyện đến cơ sở và xây dựng đề án “Phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009-2020”. Mục tiêu của đề án nhằm giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo, sớm đưa Tân Sơn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu.

Huyện Tân Sơn (Phú Thọ) được thành lập theo Nghị định 61/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính, tách huyện Thanh Sơn thành 2 huyện: Thanh Sơn và Tân Sơn. Tách ra từ một huyện nghèo, Tân Sơn trở thành huyện miền núi vùng cao với gần 77 nghìn người, gồm 8 dân tộc anh em trong đó có 7 dân tộc thiểu số như Mường, Dao, Mông, Tày... chiếm 82,3% dân số. Toàn huyện có 14/17 xã đặc biệt khó khăn, còn lại 3 xã thuộc xã miền núi khu vực II nhưng có 7 thôn bản đặc biệt khó khăn. Khi mới chia tách hụyện, tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 62%, sau một thời gian nỗ lực với cuộc chiến chống đói nghèo, cuối năm 2008, tỉ lệ hộ nghèo ở Tân Sơn vẫn cao nhất tỉnh (52,42%). Mặc dù có tiềm năng về đất đai, thuận lợi về khí hậu để phát triển kinh tế nông-lâm nghiệp nhưng do địa hình của Tân Sơn là nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn nên khá phức tạp, độ dốc cao, bị chia cắt bởi các chi lưu của hệ thống sông Bứa nên có nhiều suối và khe lạch nên diện tích đất thuận lợi cho canh tác, sản xuất nông nghiệp rất ít. Bên cạnh đó tình trạng sạt lở đất, lũ ống, lũ quét thường xảy ra cục bộ nên đói nghèo đeo đẳng mãi người dân nơi đây. Tỉ lệ đói nghèo tập trung chủ yếu là hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đầu năm 2009, khi xây dựng đề án thực hiện Nghị quyết 30a, tỷ lệ hộ nghèo là nông dân chiếm 98%, trong đó cá biệt có những xã tỉ lệ hộ nghèo rất cao như: Thu Cúc 57,7%; Đồng Sơn 60,7%; Lai Đồng 62%; Vinh Tiền 66,8%. Theo ông Bùi Đức Nhẫn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Tân Sơn cho biết: “Ngoài những khó khăn về đất sản xuất nông nghiệp, về địa hình và thời tiết thì nguyên nhân chính là do giao thông khó khăn (7/17 xã bị chia cắt vào mùa mưa), hầu hết lao động chưa qua đào tạo, các chương trình mục tiêu, dự án kinh tế đã đầu tư trên địa bàn như Chương trình135, 134, Dự án của WB... thời gian qua chưa đủ mạnh để vực dậy nền kinh tế của huyện, việc nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân thông qua thực hiện chương trình còn hạn chế. Mặt khác, các chính sách ưu đãi của nhà nước chưa đủ hấp dẫn nên các doanh nghiệp không mấy mặn mà bỏ vốn đầu tư vào sản xuất trên địa bàn.”. Tuy còn nhiều vướng mắc song kết quả đạt được từ các chương trình, dự án và một số chính sách đầu tư nhằm xoá đói giảm nghèo đã và đang thực hiện trên địa bàn Tân Sơn cũng đã tạo được tiền đề quan trọng để triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ. Cơ sở hạ tầng bước đầu được đầu tư: 19 công trình nước sạch; 11 công trình giao thông; 6 công trình điện..., một số trung tâm cụm xã được đầu tư như Trung tâm cụm xã Xuân Đài, Trung tâm cụm xã Kiệt Sơn đã tạo ra động lực để phát triển kinh tế-xã hội các tiểu vùng. Đặc biệt, chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo được triển khai khá tích cực, tạo sự đồng thuận, phấn khởi và tin tưởng của người dân với Đảng, chính quyền ở địa phương và làm ấm lòng các nhà tài trợ. Trong thời gian qua, 4.200 ngôi nhà tạm được thay thế bằng những ngôi nhà kiên cố, chỉ riêng trong năm 2009, đã có 3.006 ngôi nhà tạm được hỗ trợ từ nguồn vốn của Chính phủ, vốn vay Ngân hàng chính sách xã hội, vốn hỗ trợ của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế... và sự đóng góp giúp đỡ của cộng đồng, dòng tộc đến nay đã có nhà ở khang trang. Trong sản xuất nông nghiệp, người dân đã bước đầu biết đầu tư vốn, giống, phân bón và biết áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất lúa đạt 49,2 tạ/ha; một số mô hình kinh tế mới như nuôi lợn rừng ở Văn Luông, bò lai sind ở Tân Phú xuất hiện đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các nghề truyền thống được duy trì và phát triển như trồng chè đặc sản ở các xã: Long Cốc, Minh Đài, Tam Thanh; nghề dệt thổ cẩm ở Kim Thượng... đã góp phần vào tốc độ tăng trưởng 19,8% năm 2008 của toàn huyện.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế vướng mắc cản trở mục tiêu của các chương trình đề ra như chưa bổ sung kịp thời cơ chế, chính sách để giải quyết các vấn đề phát sinh. Ông Phạm Xuân Sơn, Phó Trưởng phòng Công thương, Trưởng ban quản lý dự án Chương trình 135 của huyện cho biết: “Nguồn vốn hỗ trợ thấp, định mức hỗ trợ theo quyết định số 1145/QĐ-TTg ngày 25/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ qui định hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng khó có thể phát huy hiệu quả đối với vùng cao đặc biệt khó khăn bởi tỉ suất đầu tư cao; nội dung và phương pháp đào tạo thuộc dự án đào tạo cho cán bộ và cộng đồng chưa thiết thực. Chương trình kiên cố hoá trường học qui định suất đầu tư 160 triệu đồng/phòng học và 40 triệu đồng/phòng công vụ trong điều kiện giá cả tăng đột biến, cước phí vận chuyển đến các xã, thôn bản khó khăn nên ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình. Mặt khác, các qui định về tỉ lệ vốn đối ứng trong điều kiện của một trong các huyện nghèo nhất nước làm cho ngân sách địa phương không thể đáp ứng được dẫn đến bất cập và có khi không thực hiện được dự án bởi thu ngân sách trên địa bàn năm 2008 là 4,819 tỷ đồng trong khi đó chi ngân sách năm 2008 là 153,983 tỷ đồng. Một số chính sách hỗ trợ còn mang tính bình quân, chưa tính đến đặc thù của huyện có khó khăn đặc biệt do vậy chưa có chính sách tập trung ưu tiên. Cùng với những vướng mắc về cơ chế chính sách thì những qui định về trình tự thủ tục trong việc thực hiện một số chương trình còn chưa phù hợp với trình độ của cán bộ và người dân do đó việc tham gia của người dân, cộng đồng vào các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm nâng cao thu nhập và kiến thức đã không đạt kết quả như mong muốn. Chẳng hạn như trình tự thủ tục vay vốn hoặc trình tự lập dự án của hộ gia đình hoặc cộng đồng để có được nguồn vốn ưu đãi phục vụ cho phát triển.

Xuất phát từ đặc thù của một huyện nghèo mới hình thành và đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng từ huyện đến các xã, trong điều kiện còn rất khó khăn về nhiều mặt do vậy việc xây dựng, thẩm định đề án 30a của huyện Tân Sơn đến tháng 7/2009 mới chính thức được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Với quan điểm chỉ đạo, phát triển kinh tế-xã hội của huyện Tân Sơn phải phủ hợp với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Phú Thọ, của trung tâm kinh tế vùng gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển kinh tế bền vững gắn với phát triển văn hoá, xã hội, gắn với việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo nhanh và bền vững. Phát triển kinh tế- xã hội phải gắn với tăng cường ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Đề án được xây dựng những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn như: mục tiêu đến năm 2010, đến 2015 và mục tiêu đến năm 2020. Trên cơ sở của Nghị quyết 30a/CP xây dựng lộ trình thực hiện đến năm 2020, nhưng với quyết tâm làm đến đâu chắc đến đó, sau đó tiếp tục rút kinh nghiệm để triển khai theo đúng lộ trình của Chính phủ đặt ra. Ngay trong năm 2009, huyện đã tập trung chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, cấp ủy, chính quyền các xã tích cực giúp đỡ, hướng dẫn và vận động nhân dân đẩy nhanh tiến độ xóa nhà tạm. Triển khai tốt công tác giao, khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo, đẩy nhanh tiến độ triển khai đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo nguồn vốn ứng trước của Chính phủ để sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hiện tổng nhu cầu vốn để thực hiện đề án là 4.653,266 tỷ đồng, nguồn vốn đã bố trí và có kế hoạch bố trí tính đến nay là 102,4 tỷ đồng, nhu cầu vốn còn thiếu là 4.538,195 tỷ đồng.

Nghị quyết 30a/CP được coi là chương trình có tính mở, vừa thực hiện vừa rút kinh nghiệm sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng mức hỗ trợ, mức đầu tư. Ngoài ra sẽ xây dựng thêm một số cơ chế, chính sách và giải pháp đặc thù phù hợp với các huyện nghèo, như: chính sách về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chính sách về giáo dục-đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo; chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng đối với cả thôn, bản, xã và huyện. Đặc biệt là việc phân bổ nguồn vốn từ trên xuống dựa theo kế hoạch được lập từ dưới lên, trên cơ sở tâm tư, nguyện vọng thiết thực của người dân. Hy vọng rằng bằng tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết, quyết tâm thống nhất cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Tân Sơn, Nghị quyết 30a/CP sẽ được tổ chức thực hiện có hiệu quả, đây sẽ là đòn bẩy tiếp thêm sức mạnh, giúp cho người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nghèo Tân Sơn có thêm động lực phấn đấu, nhằm nhanh chóng thoát nghèo và phát triển bền vững.

Lương Hùng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,882,419


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs