Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 02/12/2009
Một số suy nghĩ đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
Trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, cán bộ cũng giữ vai trò hết sức quan trọng đến sự thành bại của cách mạng. Hiện nay, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số chưa đáp ứng được yêu cầu mới của đất nước, đặc biệt là số cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Tổng hợp số lượng, chất lượng cán bộ dân tộc thiểu số có 48.200 người, trong đó:

Vùng Đông Bắc: 20.526 người; Vùng Tây Bắc: 9.826 người; Vùng Bắc Trung Bộ: 5.564 người; Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: 3.367 người; Vùng Tây Nguyên: 5.311 người; Vùng Đông Nam Bộ: 2.049 người; Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: 1.557 người.
Về cơ cấu đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã theo độ tuổi như sau:

Dưới 34 tuổi có 12.541 người, từ 35-45 tuổi 18.508 người, từ 46-60 tuổi 17.151 người. Cơ cấu cán bộ theo giới tính: Cán bộ nữ dân tộc thiểu số công tác tại xã 6.324 người chiếm 13,1% trên tổng số cán bộ dân tộc thiểu số. Về trình độ học vấn: Trình độ văn hóa Trung học phổ thông 17.178 người, Trung học cơ sở, Tiểu học 29.794 người. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Tốt nghiệp đại học 941 người, trung cấp, sơ cấp 8.884 người, chưa qua đào tạo về chuyên môn 37.463 người. Về trình độ lý luận chính trị: Cán bộ có trình độ cử nhân, cao cấp 378 người; trung cấp, sơ cấp 16.841 người, chưa qua đào tạo chiếm 30.175. Về trình độ quản lý Nhà nước: Cán bộ có trình độ cử nhân 89; trình độ trung cấp, sơ cấp 9.884 người; chưa qua đào tạo 38.227 người.

Nhìn chung đại bộ phận cán bộ dân tộc thiểu số khi tham gia công tác ở xã đều tận tụy với công việc, có phẩm chất, đạo đức tốt, trung thành với cách mạng, với Đảng và Nhà nước, cần cù chịu khó, có ý thức phấn đấu, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm tự bồi dưỡng, học hỏi để hoàn thành nhiệm vụ. ý thức phấn đấu, rèn luyện về chính trị, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, đa số là đảng viên. Để tạo điều kiện cho cán bộ là người dân tộc thiểu số hoàn thành nhiệm vụ, những năm gần đây Bộ Nội vụ, Uỷ ban Dân tộc, các địa phương và các trường nghiệp vụ, trường chính trị từ Trung ương đến địa phương đã tích cực đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ theo các chương trình như: Bồi dưỡng văn hóa, lý luận chính trị sơ cấp, trung cấp, quản lý Nhà nước hoặc các lớp chuyên môn khác như: Văn phòng, tư pháp, địa chính... Nhờ vậy cán bộ là người dân tộc thiểu số trong thời gian qua (so với yêu cầu của các chức danh) đã được cải thiện đáng kể, chất lượng công việc đều tăng hơn, tốt hơn so với các năm trước. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại và yếu kém:

Một là, một số cán bộ chủ chốt các ngành ở huyện, quận do trình độ yếu, chưa năng động, nhạy cảm nên hạn chế trong việc chuyển tải những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước xuống cơ sở.

Hai là, đại bộ phận cán bộ chủ chốt cấp xã, phường như bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, xã, phường... còn lúng túng trong tổ chức, chỉ đạo, quản lý kinh tế ở cơ sở trong thời kỳ mở cửa hội nhập WTO.

Ba là, Nhà nước đã có văn bản, qui định về đào tạo, bồi dưỡng; chế độ chính sách cho cán bộ dân tộc thiểu số đã được ban hành. Song việc cụ thể hóa, triển khai hướng dẫn còn bất cập chưa sát với thực tế từng loại đối tượng cán bộ của từng địa phương, từng vùng dân tộc.

Bốn là, chưa coi trọng đúng mức đến công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở ở một số địa phương, đặc biệt là đội ngũ cán bộ nguồn. Do vậy trong quá trình bố trí sử dụng cán bộ cơ sở thường bị động (thiếu cả về số lượng, chất lượng). Có một số dân tộc thiểu số rất ít người như: Si La, Pu Péo, Brâu, Ơ Đu, Rơ măm... chưa có cán bộ.

Năm là, việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc ở từng vùng, miền không đồng đều về mặt chất lượng. Một số cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng song chương trình, nội dung giảng dạy còn chắp vá, thiếu tính hệ thống và tính đặc thù của đối tượng người học là cán bộ dân tộc.

Sáu là thực tiễn cho thấy đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay đang công tác tại xã chỉ đạt 28% so với tổng số cán bộ xã hiện có ở các vùng dân tộc. Các chức danh chính đảm nhận trong hệ thống Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể của xã chiếm tỷ lệ thấp, các xã vùng khó khăn vẫn phải điều động và sử dụng cán bộ tăng cường từ nơi khác tới.

Nếu so với những năm trước đây thì số lượng có tăng hơn nhưng nhìn chung vẫn còn rất thiếu, đặc biệt là các xã vùng 3, vùng kháng chiến khó khăn. Các chức danh chuyên môn ở các xã vùng này đa số không có cán bộ là người dân tộc thiểu số (chỉ đạt tỷ lệ khoảng 8%).

Thực tế cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã dù đã được cải thiện nhưng điều bất cập vẫn thấy rõ là: Tuổi bình quân cao, thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ và quản lý Nhà nước, không mang tính chuyên nghiệp, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức là rất lớn.

Do đặc điểm của từng vùng, từng miền khác nhau, nên việc bố trí cán bộ các vùng khác nhau, nhưng chính sách cán bộ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa chưa được quan tâm đúng mức. Cán bộ vùng sâu, xa thì ngại học tập, bồi dưỡng; còn bản thân một số cán bộ chủ chốt cấp xã, phường thì không thích làm công tác Đảng, muốn làm công tác chính quyền. Chính điều này đã gây khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ.

Để đáp ứng yêu cầu mới đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề đào tạo bồi dưỡng cán bộ cần phải có một số biện pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất là, đổi mới nhận thức về công tác cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới.

Vai trò, vị trí của cán bộ chủ chốt các ngành ở huyện, xã quyết định sự thành công hay thất bại của nhiệm vụ cách mạng. Đồng thời công tác cán bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay vừa mới mẻ, vừa phức tạp, do vậy việc xây dựng tiêu chuẩn của cán bộ chủ chốt các ngành ở huyện, quận, xã, phường cho từng chức danh: bí thư, chủ tịch, các phó bí thư, phó chủ tịch, trưởng, phó phòng ban và các chức danh chủ chốt ở cấp xã, phường phải được quán triệt một cách cụ thể thì mới có thể bố trí, sử dụng, đáp ứng yêu cầu của từng vùng, từng địa phương, sát với yêu cầu khách quan, chủ quan của mỗi đơn vị và nguyện vọng của mỗi cán bộ.

Cùng với việc tiêu chuẩn hoá cán bộ, cần đổi mới nhận thực việc đề bạt, sử dụng cán bộ, chuẩn bị chu đáo, không khoán trắng cho cơ quan tổ chức cấp dưới. Khi xây dựng về tiêu chuẩn cán bộ cơ sở cần chú ý đến phẩm chất, năng lực chỉ đạo thực tiễn của cán bộ.

Thứ hai là thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt các ngành ở huyện đồng thời ban tổ chức các cấp cũng phải tăng cường rà soát đánh giá cán bộ cơ sở xã, phường một cách thường xuyên.

Đây là khâu rất quan trọng vì hiểu rõ, đánh giá đúng cán bộ mới bố trí sử dụng đúng cán bộ. Có rà soát đánh giá cán bộ, thì việc đánh giá đề bạt tránh được thiếu sót và sai lầm.

Khi rà soát, đánh giá cán bộ phải chú trọng thực chất, tránh hình thức, không đơn thuần đánh giá theo cảm tính hay chỉ nhìn vào bằng cấp, học vị, tuổi tác mà phải có cách nhìn tổng quát, khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Khắc phục tình trạng đánh giá cán bộ một cách phiến diện, chủ quan thiếu dân chủ... Từ rà soát, đánh giá cán bộ, xây dựng kế hoạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng đội ngũ cán bộ chủ chốt các ngành huyện, quận, xã, phường một cách khoa học và đồng bộ. Qua đó phát hiện những nhân tố mới, đưa đi đào tạo kịp thời.

Thứ ba là, đào tạo bồi dưỡng phải gắn với quy hoạch cán bộ. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải mang tính khoa học rất cao, phải có quy hoạch cụ thể đồng bộ và quy hoạch phải đảm bảo tính kế thừa, tính liên tục trong đội ngũ cán bộ. Đào tạo bồi dưỡng cán bộ đòi hỏi phải được quy hoạch một cách cơ bản, hệ thống, cần gắn việc đào tạo với quy hoạch, đảm bảo tính kế tiếp giữa các thế hệ cán bộ.

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên, liên tục, lâu dài. Do vậy, phải căn cứ vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo. Nhiệm vụ đào tạo là công việc của mỗi tổ chức Đảng, chính quyền, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị. Vì vậy, khi có quy hoạch và kế hoạch đào tạo thì cá nhân, các cơ sở phải phối hợp đào tạo, bồi dưỡng tránh chạy theo số lượng, thành tích.

Thứ tư là, đào tạo bồi dưỡng phải kết hợp với sử dụng cán bộ. Đây là biện pháp không thể thiếu trong công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ bởi sử dụng cán bộ là kết quả của quá trình đào tạo cán bộ. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà không sử dụng tốt, không đúng vị trí sẽ không phát huy được hiệu quả của việc đào tạo bồi dưỡng. Đào tạo mà không có kế hoạch sử dụng sẽ gây lãng phí về kinh tế, cán bộ thiếu an tâm học tập, nâng cao trình độ, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cán bộ. Cái khó của công tác cán bộ là khéo dùng cán bộ, nó thể hiện ở chỗ khi sử dụng đánh giá đúng cán bộ, bố trí đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm, đặt người đúng việc. Vì việc mà đặt người chứ không phải vì ngời mà đặt việc. Biết kết hợp các thế hệ cán bộ, giữa trẻ và già: “Cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ hăng hái nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập nên tiến bộ nhanh ...”.

Thứ năm là, đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với chế độ chính sách cán bộ. Nói chung cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay đi đào tạo, bồi dưỡng dài hạn còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được hưởng chính sách ưu đãi, thống nhất; do vậy, cần phải có chính sách, quy định thống nhất trong cả nước để tạo điều kiện cho họ học tập, đặc biệt là cho cán bộ vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Thứ sáu là, đào tạo bồi dưỡng cán bộ phải gắn với quá trình tự rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu của mỗi cán bộ.

Quá trình đào tạo bồi dưỡng mà bản thân người học không nỗ lực phấn đấu rèn luyện thì kết quả đào tạo không cao, năng lực cán bộ sẽ hạn chế. Do đó đòi hỏi người học cần có sự nỗ lực rất cao để nắm bắt tri thức mới, biết gắn lý luận với thực tiễn, cụ thể hoá được đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác.

Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề rất khó, phức tạp, bởi mỗi con người có những hoàn cảnh khác nhau, với những đặc điểm thể chất, tâm lý khác nhau. Do đó việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là vấn đề khoa học, không thể một sớm một chiều giải quyết, quy định, mà phải đặt nó trong từng điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị, cơ sở. Có như vậy công tác đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số mới đem lại hiệu quả.

TS. Trịnh Quang Cảnh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,462,580


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs