Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 02/12/2009
Chính sách cử tuyển vừa phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số của nước ta
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, với ưu tiên cho giáo dục và đào tạo được xem là nhân tố quyết định cho xóa đói giảm nghèo và giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng. Chủ trương cử tuyển trong việc đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số đã được Đảng và Nhà nước triển khai từ năm 1989 khi có sự ra đời của Nghị quyết 22/NQ/TW của Bộ Chính trị.

Nghị quyết này đã chỉ rõ: “Đào tạo cán bộ dân tộc, cán bộ miền núi, học xong trở về địa phương phục vụ đồng bào dân tộc”. Chủ trương này sau đó đã được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục năm 1999. Điều 78 của Luật này đã ghi: “Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào đại học và trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển đối với con em các dân tộc ở vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để đào tạo cán bộ, công chức cho vùng này”.
 
 Với mục tiêu tạo nguồn cán bộ và nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực cho người dân tộc thiểu số khi xem xét đến đặc điểm của vùng. Hội nghị lần thứ bảy Khóa IX (1/2003) đã đánh giá toàn diện chính sách dân tộc của Đảng. Nghị quyết đã tiếp tục khẳng định: “phải thực hiện tốt chính sách ưu tiên cử tuyển các con em dân tộc vào học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”. Cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ cũng đã ra nhiều văn bản để triển khai các chủ trương và các điều của Luật giáo dục liên quan đến cử tuyển. Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành Luật giáo dục, trong đó Khoản 2, Điều 38 quy định rõ về chế độ cử tuyển. Căn cứ vào Nghị định 43, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp ban hành Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT-BGD&ĐT-UBDT&MN-BTCCBCP ngày 26/2/2001 về “Hướng dẫn tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển”. Tiếp tục đổi mới chính sách, Chính phủ đã ban hành Nghị định 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 về quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
 
 Cử tuyển là việc tuyển sinh không qua thi tuyển vào đại học, cao đẳng và trung cấp để đào tạo cán bộ, công chức, viên chức cho các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn và các dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất ít cán bộ đạt trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp. Theo Nghị định 134, chỉ tiêu cử tuyển được xác định hàng năm căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, quy hoạch cán bộ và do ủy ban nhân dân các tỉnh, thành thực hiện. Các học sinh được lựa chọn sẽ được đào tạo một năm dự bị đại học, cao đẳng, sau khi đủ điều kiện sẽ học chính thức tại các cơ sở giáo dục. Nhà nước sẽ hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo các sinh viên cử tuyển. Theo quy định, sau khi tốt nghiệp, ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức tiếp nhận và phân công công tác cho sinh viên cử tuyển đã tốt nghiệp.
 
 Sau gần 20 năm thực hiện chủ trương cử tuyển (kể từ Nghị quyết 22 của Bộ chính trị) và 10 năm thực hiện chế độ cử tuyển theo Luật Giáo dục, công tác cử tuyển đã đạt được những kết quả nhất định. Kết quả cử tuyển được chia ra làm ba giai đoạn chính: giai đoạn từ năm 1990 đến 1998 (trước khi Luật Giáo dục có hiệu lực), giai đoạn từ 1999 đến 2005, và giai đoạn triển khai Nghị định 134 về một số đổi mới công tác cử tuyển từ 2006 đến nay. Trong giai đoạn từ 1990-2006, cả nước đã đào tạo được 20.651 học sinh, so với chỉ tiêu đạt 88%. Số sinh viên được đào tạo tại 37 trường đại học, cao đẳng Trung ương và 20 trường cao đẳng sư phạm địa phương, 52 cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp, chủ yếu đào tạo các ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ lợi, xây dựng, kiến trúc, giao thông, kinh tế, kỹ thuật công nghiệp, sư phạm, y tế, văn hoá và ngoại ngữ. Theo kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội, sau khi tốt nghiệp, có trên 80% học sinh, sinh viên trở về quê hương công tác theo sự điều động và phân công của địa phương. Nhiều địa phương đã khắc phục tình trạng thiếu cán bộ, một số dân tộc đã hình thành được đội ngũ cán bộ tri thức của dân tộc mình.
 
 Mặc dù công tác cử tuyển người dân tộc thiểu số đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, chính sách này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt về nguồn cử tuyển, chất lượng đào tạo và sử dụng ở địa phương sau khi đã hoàn thành quá trình đào tạo.
 
 Về nguồn đào tạo:
 
 Kể từ khi thực hiện Luật Giáo dục đến nay, một số địa phương không năm nào đạt chỉ tiêu cử tuyển. Phần lớn số học sinh đủ tiêu chuẩn là người của một số dân tộc như Thái, Tày, Nùng và Mường, đây là những dân tộc có trình độ phát triển khá, gần với người Kinh, còn các dân tộc thiểu số khác rất thiếu cán bộ lại chiếm tỉ lệ học sinh cử tuyển thấp. Nhiều xã và nhiều dân tộc thiểu số không có học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông để xét tuyển. Hệ thống giáo dục phổ thông kém phát triển là nguyên nhân chính làm cho nhiều dân tộc không có nguồn để đào tạo theo chế độ cử tuyển. Ngoài ra, việc giao chỉ tiêu và ngành nghề đào tạo chủ yếu là từ trên giao xuống các địa phương, do đó có nhiều ngành nghề được đào tạo không phù hợp dẫn đến địa phương thiếu cán bộ nhưng lại vẫn thừa làm cho hiệu quả của chính sách cử tuyển chưa được cao.
 
 Bên cạnh đó, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh cử tuyển hằng năm chưa đạt kế hoạch còn do ở nhiều địa phương vẫn còn tình trạng tuyển sai đối tượng. Điển hình là quy định lấy hộ khẩu thường trú làm căn cứ ưu tiên khu vực tỏ ra có nhiều bất cập nhất. Thực tế từ các địa phương cho thấy hình thức gian lận, tiêu cực phổ biến nhất trong cử tuyển hiện nay là tình trạng “chạy” hộ khẩu về vùng sâu, vùng xa để hưởng chế độ, trong khi bản thân người học và gia đình đều đang sống và học tập tại địa bàn không được hưởng ưu tiên. Trong khi đó quy trình xét duyệt tuyển chọn qua nhiều khâu phức tạp, tồn tại quan liêu, tham nhũng và sự lệch nhau về số liệu báo cáo.
 
 Theo kết quả về công tác cử tuyển giai đoạn 1990-1995, phân bổ theo loại hình dân tộc thì dân tộc Kinh chiếm 41,14%, Tày 17,3%, Thái 10,4%, Êđê 0,73%, Hrê 0,60%, Giáy 0,65%, Ba Na 0,44%, Pa Kô 0,57%, và Bru Vân Kiều 0,52% . Như vậy, chủ trương cử tuyển là đúng, nhưng tổ chức thực hiện lại đi trệch mục tiêu không đúng đối tượng. Theo như Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ là “mở các lớp riêng cho học sinh, sinh viên là người dân tộc ít người, nhất là ở vùng cao để đào tạo cho phù hợp và có hiệu quả cao”. Tuy nhiên, phần lớn học sinh được cử tuyển lại là người Kinh, qua đó có thể thấy mục đích của chính sách vẫn chưa đạt được khi đối tượng quan tâm chính là người dân tộc thiểu số.
 
 Về chất lượng đào tạo:
 
 Một trong những thách thức lớn nhất đối với đào tạo sinh viên hệ cử tuyển là chất lượng đầu vào yếu, số học sinh ít nên việc tổ chức các lớp riêng cũng gặp nhiều khó khăn. Phần lớn các sinh viên hệ cử tuyển phải học chung với các sinh viên người Kinh hoặc sinh viên đến từ những vùng thuận lợi hơn, có chất lượng đầu vào tốt hơn. Ngoài ra, chương trình bồi dưỡng văn hóa năm dự bị ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chưa được thống nhất, còn quá nhiều môn học, dàn trải, trong khi quỹ thời gian có hạn, khả năng tiếp thu của học sinh, sinh viên còn chậm do vốn tiếng Việt còn nghèo nàn. Các sinh viên người dân tộc thiểu số thường thiếu tự tin trong việc hòa nhập và dễ mặc cảm. Điều này đã dẫn đến kết quả học tập hầu hết của học sinh, sinh viên chỉ đạt loại trung bình, tỷ lệ đạt loại khá cũng chỉ đạt từ 3-5%. Nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp trở về địa phương chưa biết áp dụng các kiến thức đã học vào quản lý và sản xuất để phát triển kinh tế-xã hội ở nơi mình sinh sống.
 
 Theo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành trong năm học 2006-2007 ở 6 tỉnh gồm có Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Kon Tum, Đắc Nông và Trà Vinh nơi có đông học sinh người dân tộc thiểu số, chỉ có 56% học sinh đạt điểm chuẩn về Toán và 53% học sinh đạt chuẩn về môn Tiếng Việt. Tỷ lệ học sinh lưu ban hoặc bỏ học đang có xu hướng gia tăng ở các tỉnh được khảo sát. ở tỉnh Đắc Lắc, 84% học sinh phổ thông trung học và 74% học sinh phổ thông cơ sở học các lớp không đúng độ tuổi. Bên cạnh các khó khăn về điều kiện cơ sở hạ tầng và mức sống thấp, tình trạng thiếu giáo viên và chất lượng giáo viên chậm được cải thiện cũng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng học tập của học sinh người dân tộc thiểu số. Các số liệu trên đã cho thấy thách thức rất lớn cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của các sinh viên cử tuyển. Chất lượng giáo dục của các tỉnh có đông học sinh người dân tộc thiểu số còn rất thấp so với chuẩn quốc gia.
 
 Về quản lý và sử dụng sau khi đào tạo:
 
 Mặc dù đã có các văn bản hướng dẫn quản lý đầu vào và đầu ra đối với học sinh cử tuyển, nhưng nhiều địa phương vẫn quản lý lỏng lẻo, không có cơ quan chịu trách nhiệm chính, dẫn đến tình trạng không theo dõi được tình trạng của học sinh cử tuyển, không nắm được số đang học hay đơn vị công tác. Điều 78, Luật Giáo dục có ghi: “Cơ quan cử người đi học có trách nhiệm tiếp nhận và bố trí công tác cho người đi học sau khi tốt nghiệp”, nhưng ít khi thực hiện được. Số cán bộ cử tuyển, đa số sau khi tốt nghiệp thường không muốn trở về địa phương công tác, hoặc làm những công việc trái với ngành nghề đã được học. Cũng có rất nhiều trường hợp, khi trở về địa phương nhưng tìm được chỗ tiếp nhận rất khó. Điều này cho thấy, công tác quy hoạch, bố trí sử dụng cán bộ tại một số địa phương còn nhiều bất cập.
 
 Theo Báo cáo kết quả giám sát cử tuyển của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, từ 1990-2001, trong số 1.319 học sinh cử tuyển tốt nghiệp, đã bố trí được 1.065 học sinh (chiếm 80,74%). Có nơi còn tỷ lệ lớn học sinh dân tộc sau khi tốt nghiệp đại học không trở về địa phương như huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, cử 19 em đi học nhưng chỉ có 1 sinh viên trở về huyện.
 
 Nguyên nhân của những thực trạng trên là do nhiều địa phương thực hiện chính sách của Nhà nước về chế độ cử tuyển còn yếu kém, chưa đầy đủ, thống nhất. Hệ thống tuyển dụng cán bộ công chức còn phức tạp và chưa tạo cơ chế khuyến khích. Công tác chỉ đạo của các bộ, ngành còn chưa chặt chẽ, không đồng bộ, có nơi còn thiếu tính dân chủ, công khai khi thực hiện chế độ cử tuyển. Trong khi các vùng dân tộc thiểu số đang cần nguồn nhân lực có trình độ, năng lực thực sự thì một số địa phương lại cử con em cán bộ nhưng học hành yếu kém đi học. Điều này đã dẫn đến tình trạng “Quy chế giáo dục theo hệ cử tuyển cho vùng dân tộc một đằng nhưng khi thực hiện lại một nẻo”. Một số địa phương còn thiếu kế hoạch đồng bộ trong việc bố trí sử dụng số sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường, dẫn đến có nơi thừa, nơi thiếu hoặc sử dụng chưa đúng với ngành nghề được đào tạo, gây nên lãng phí, kém hiệu quả trong đào tạo. Một trong những nguyên nhân chính nữa là chất lượng yếu của sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp, khả năng đáp ứng yêu cầu của công việc còn hạn chế dẫn đến nhiều địa phương còn chậm trong việc sắp xếp tổ chức. Nhiều địa phương có quan niệm đánh giá thấp chất lượng của sinh viên cử tuyển. Tất cả đã ảnh hưởng đến khả năng tìm việc của sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Có thể thấy rằng, việc sử dụng sau khi tốt nghiệp là khâu quan trọng nhất, quyết định trực tiếp đến hiệu quả của chính sách cử tuyển.
 
 Với chủ trương đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, sự ra đời của chính sách cử tuyển đã và đang tạo ra bước đột phá trong quá trình tạo nguồn tri thức dân tộc thiểu số, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng dân tộc thiểu số. Một trong những vấn đề được đặt ra ở đây đó chính là liệu chính sách cử tuyển có tạo ra động lực thực sự cho phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số hay không khi tâm lý ỷ lại chờ bao cấp được hình thành, con em của các cấp chính quyền được lựa chọn, chất lượng đầu vào thấp và các tiêu cực nảy sinh trong quá trình để được xét tuyển vào diện cử tuyển. Chính vì vậy, để nâng cao hơn nữa chính sách cử tuyển, đòi hỏi phải có một số giải pháp, cụ thể như sau:
 
 Thứ nhất là rà soát lại hệ thống cán bộ dân tộc thiểu số, qua đó xác định cụ thể nhu cầu đào tạo, chú trọng cử tuyển đối với một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, từng bước thay đổi chế độ cử tuyển đối với các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển gần với người Kinh. Thay vì cử tuyển, Nhà nước nên hỗ trợ về chi phí học tập hay sinh hoạt như chính sách học bổng, miễn giảm học phí hay trợ cấp sinh hoạt đối với các sinh viên. Chính sách cử tuyển nên có sự áp dụng khác nhau tùy theo từng nhóm dân tộc thiểu số. Việc cử tuyển cần được tiếp tục cho một số huyện miền núi biên giới, hải đảo thuộc vùng sâu, vùng xa với đối tượng đặc cách con em dân tộc thiểu số có số dân ít và tỉ lệ cán bộ còn rất thấp.
 
 Thứ hai là tăng cường đầu tư vào hệ thống giáo dục cho người dân tộc thiểu số, đặc biệt là các trường phổ thông dân tộc nội trú để tăng cường nguồn đầu vào và nâng cao chất lượng cho cử tuyển. Trong tương lai, có thể hình thành tại mỗi tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số trường đại học cộng đồng hoặc trường dự bị đại học. Kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc cho thấy, việc tạo ra các trường đào tạo riêng cho người dân tộc thiểu số sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu của địa phương trong công tác đào tạo. Bên cạnh đó, các nội dung chương trình và các chính sách hỗ trơ cũng có sự điều chỉnh phù hợp hơn với đặc điểm của từng nhóm dân tộc. Các trường đại học này dành ưu tiên đào tạo con em các dân tộc thiểu số. Cần có quy chế, chính sách riêng về đào tạo, bồi dưỡng những sinh viên dân tộc thiểu số có khả năng tự thi tuyển vào các trường đại học.
 
 Thứ ba là đổi mới nội dung, chương trình đào tạo gắn với đặc thù của các dân tộc thiểu số. Các chương trình nên điều chỉnh phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và phân loại theo từng nhóm dân tộc khi được thực hiện ở cấp đào tạo dự bị. ở đây vai trò của các trường dự bị đại học là quan trọng trong việc tạo bước đệm để các học sinh theo kịp được chương trình đào tạo chuẩn quốc gia. Tăng cường đào tạo dự bị đại học để tạo điều kiện cho các em thi vào đại học, khi đã vào đại học là đạt mặt bằng chung như mọi sinh viên khác của cộng đồng. Chính vì vậy, chương trình dự bị có thể kéo dài hơn 1 năm và cần có chọn lọc trong quá trình đào tạo dự bị. Từng bước cải cách nội dung và chương trình giáo dục dân tộc phù hợp với từng vùng.
 
 Thứ tư là gắn cử tuyển với quy hoạch địa chỉ sử dụng sau khi tốt nghiệp. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý của chính quyền địa phương trong sử dụng sinh viên cử tuyển. Cần có trách nhiệm cụ thể trong quy hoạch, bố trí và sử dụng đối tượng cử tuyển. Sau khi tốt nghiệp, bố trí sinh viên tốt nghiệp theo đúng địa chỉ đã quy hoạch. Phát huy hơn nữa vai trò giám sát của các cơ quan như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các tổ chức xã hội dân sự đối với công tác cử tuyển nhằm đảm bảo thực hiện đúng đối tượng, đặc biệt là quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số. Đổi mới cơ chế chính sách xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số.
 
 Cần coi trọng hơn trong việc cử tuyển vào trung học chuyên nghiệp và tiến tới lâu dài giảm dần cử tuyển ở bậc cao đẳng và đại học vì đây là bậc học cần thiết tạo nguồn cán bộ cấp xã vùng dân tộc thiểu số. Chính quyền các cấp cần chú ý tổ chức tuyển lựa các con em dân tộc thiểu số có nền tảng học vấn tốt để đi học tập ở các vùng phát triển trong cả nước. Từng bước giảm thiểu thủ tục hành chính trong quá trình xét tuyển và tuyển dụng cán bộ, tạo điều kiện và môi trường làm việc cho các sinh viên phát huy trong những nghành nghề đã theo học.
 
 Thứ năm là chính sách cử tuyển chỉ có thể phát huy được hiệu quả khi nó được thực hiện đồng bộ cùng với các chính sách khác. Rất khó có thể thu hút sinh viên sau khi tốt nghiệp về các vùng sâu vùng xa nếu như không có chính sách ưu tiên hợp lý. Nhà nước cần phải đẩy mạnh hơn nữa phát triển cơ sở hạ tầng và ưu tiên nâng cao sinh kế cho hộ gia đình người dân tộc thiểu số. Xóa đói giảm nghèo và giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giáo dục sẽ tạo cơ hội cho giảm nghèo và ngược lại, giảm nghèo sẽ góp phần nâng cao chất lượng của giáo dục. Chính vì vậy, các chính sách về hỗ trợ tín dụng, xóa đói giảm nghèo, chính sách phát triển giáo viên cho vùng dân tộc và nhiều chính sách khác cần được thực hiện. Các chính sách này nên lựa chọn ưu tiên hỗ trợ theo từng nhóm dân tộc khác nhau và xem xét đến đặc thù của từng dân tộc thiểu số.

PGS.TS: Nguyễn Đăng Thành
PGĐ Học viện CT-HC Quốc gia HCM
Giám đốc Học viện Hành chính

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,463,203


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs