Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 02/12/2009
Vấn đề sử dụng thông thạo ngôn ngữ phổ thông vùng núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là những quốc gia đa dân tộc, và do đó trong mỗi quốc gia đều có nhiều ngôn ngữ. Có những dân tộc sử dụng vài ba ngôn ngữ, như: Thụy Sĩ, Pháp, Đức…, song cũng có những quốc gia dân tộc có tới hàng chục ngôn ngữ, như: Trung Quốc, ấn Độ, Việt Nam…

Theo C.Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, và là công cụ để giao tiếp. Muốn truyền đạt tư tưởng, muốn trao đổi sản phẩm, muốn giao lưu văn hóa…, đều phải có ngôn ngữ để chuyển tải. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra rằng, để thúc đẩy buôn bán, thương mại, phát triển kinh tế hàng hóa, giai cấp tư sản đã tiến hành nhiều biện pháp trong đó đã sớm xây dựng một ngôn ngữ chung của quốc gia. Như vậy, trước hết từ các mối liên hệ về kinh tế đã dẫn đến cần thiết phải có ngôn ngữ chung. Cũng do đó, chủ nghĩa tư bản là lực lượng đầu tiên có công trong việc làm cho các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau trên cơ sở liên hệ kinh tế và hiểu ngôn ngữ của nhau.

Xu thế toàn cầu hóa hiện nay đã dẫn đến việc có một ngôn ngữ được nhiều nước sử dụng và cũng có thể được coi là ngôn ngữ chung của thế giới là Anh ngữ. Bởi, nếu không có ngôn ngữ chung thì các quan hệ kinh tế, các trao đổi thương mại, các giao lưu văn hóa, các tranh chấp pháp lý…, là rất khó để thực hiện. Cũng chính từ đó mà suy: trong một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ thì chính phủ các nước này thường quy định về việc lấy một ngôn ngữ phổ thông nhất làm ngôn ngữ quốc gia.

ở Việt Nam, đất nước có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số. Các dân tộc đều có tiếng nói riêng và một số dân tộc có chữ viết riêng. Tiếng Việt và chữ quốc ngữ được lấy làm ngôn ngữ phổ thông.

Tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những chính sách và văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc các dân tộc thiểu số được sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình, đồng thời cũng yêu cầu đồng bào các dân tộc phải thông thạo tiếng phổ thông. Chủ trương, chính sách đó là đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc cũng như đòi hỏi của sự hoà nhập và phát triển. Song, hiện nay có một thực tế là nhiều đồng bào dân tộc thiểu số không biết hoặc biết rất hạn chế ngôn ngữ phổ thông, làm cản trở sự phát triển của chính đồng bào. Bác Hồ đã nói: “Bất kỳ làm nghề gì, nếu không biết chữ thì khó tiến bộ”. Do đó, một trong những nhiệm vụ cấp thiết của sự nghiệp giáo dục, đào tạo và của chính sách dân tộc là phải làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số thông thạo ngôn ngữ phổ thông (chúng tôi nhấn mạnh), bởi thạo tiếng phổ thông là điều kiện để đồng bào nắm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tiếp nhận những thành tựu trên các mặt văn hoá, xã hội, những tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và đời sống để phát triển, để hoà nhập với cộng đồng.

ở vùng dân tộc, miền núi nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hiện còn không ít cán bộ xã, cán bộ thôn bản chưa nói thông, viết thạo tiếng phổ thông. Trong bối cảnh xã hội thông tin ngày nay, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản chỉ thị của cấp trên mang tính định hướng và chỉ đạo cho hoạt động của cán bộ cơ sở được cập nhật hàng ngày trên các báo, đài, mạng Internet và các kênh thông tin khác, nếu cán bộ cơ sở không biết ngôn ngữ phổ thông sẽ không khai thác được các nguồn thông tin hữu ích và cần thiết phục vụ cho lĩnh vực công tác của họ. Việc tiếp nhận những định hướng của cấp trên đối với cán bộ cơ sở, hạn chế sẽ làm ảnh hưởng tới lĩnh vực và khả năng công tác của cán bộ cơ sở.

Với đồng bào dân tộc thông thạo tiếng phổ thông sẽ có điều kiện tiếp thu các tiến bộ khoa học-kỹ thuật phát triển sản xuất, tăng cường các trao đổi thương mại giữa đồng bào thiểu số và đồng bào đa số, giữa đồng bào thiểu số với nhau. Khả năng hoàn thiện và thích ứng của đồng bào với môi trường xã hội sẽ tốt hơn. Đó cũng là điều kiện tốt để những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến được trực tiếp với đồng bào, để từ đó đồng bào tự giác thực hiện. Từ thực tế cho thấy, khi đồng bào không biết tiếng phổ thông thì hiểu biết về pháp luật và ý thức pháp luật bị hạn chế, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo vào các hành vi vi phạm pháp luật… Đồng bào thạo ngôn ngữ phổ thông sẽ làm xích lại gần nhau giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, từ đó góp phần tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, củng cố quốc phòng, an ninh, ổn định trật tự xã hội vùng “phên dậu” của Tổ quốc.

Đối với học sinh phổ thông, thực tiễn cho thấy, sự phát triển yếu kém của giáo dục vùng dân tộc thiểu số nhiều năm qua một phần là do các em không nắm được ngôn ngữ phổ thông. Giáo dục được coi là chìa khóa để nâng cao dân trí. Song để sử dụng được chiếc chìa khóa đó thì bước đầu tiên là phải nắm được ngôn ngữ chính của nền giáo dục. Do đó, muốn nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải dạy cho các em ngôn ngữ phổ thông.

Để đồng bào dân tộc thiểu số thạo ngôn ngữ phổ thông, thiết nghĩ, cần làm tốt những việc sau:

Một là, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp và đồng bào các dân tộc hiểu rõ mục đích và lợi ích trong việc học ngôn ngữ phổ thông. Việc này cần làm kiên trì, bền bỉ.

Hai là, phải coi đây là một trong những việc lớn, hệ trọng của sự nghiệp giáo dục-đào tạo, của đất nước, của chính sách dân tộc và công tác dân tộc, đòi phải huy động nguồn lực tổng hợp với sự quan tâm, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan, của các cấp, các ngành trong việc trang bị cho đồng bào dân tộc thiểu số công cụ để tiếp nhận những tri thức thiết thực của sự hoà nhập và phát triển. Các cấp, các ngành cần nhận thức thật sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải săn sóc, giúp đỡ nhiều hơn nữa đồng bào rẻo cao về mọi mặt”.

Ba là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cộng tác viên, tuyên truyền viên cho việc dạy ngôn ngữ phổ thông cho đồng bào. Việc học ngôn ngữ phổ thông đối với đồng bào dân tộc thiểu số là học một ngoại ngữ. Phải có kế hoạch cụ thể, rõ ràng và đồng bộ, đi sâu, đi sát đồng bào thì việc dạy học mới mong có kết quả tốt đẹp. Một mặt, cần dạy ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho giáo viên dạy ở vùng này, song mặt khác cần đặc biệt quan tâm đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số, sau khi tốt nghiệp sẽ đưa họ về chính địa phương, làng bản mình công tác.

Đối với đối tượng trẻ em cần dạy theo phương châm càng sớm càng tốt, cho trẻ tiếp cận với ngôn ngữ phổ thông từ cấp học mẫu giáo và trong suốt các cấp học tiếp theo. Hiện số trẻ em mẫu giáo, tiểu học không biết hoặc nói chưa sõi tiếng phổ thông còn chiếm tỷ trọng lớn. Để học sinh vào lớp 1 mới dạy ngôn ngữ phổ thông là muộn, bởi cùng một lúc các em vừa học ngôn ngữ vừa tiếp thu tri thức của các môn học khác sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, làm các em tiếp thu bài học bị hạn chế. Do đó, nhất thiết phải có bước đệm, cho các em học ngôn ngữ trước khi học tri thức khoa học.

Ths. Nguyễn Đức Hòa
Bộ Giáo dục và Đào tạo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,462,555


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs