Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Mấy vấn đề về hoạt động nghiên cứu khoa học của cơ quan công tác dân tộc

 19/11/2009
Hơn 60 năm qua, Cơ quan công tác dân tộc mà tổ chức tiền thân là Nha Dân tộc thiểu số, với chức năng “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”.(1) Nha dân tộc thiểu số bao gồm các bộ phận: Ban Nghiên cứu, Ban Thanh tra, Ban Kinh tế, Ban Tiếp đón đồng bào dân tộc thiểu số và Văn phòng. Trong đó Ban Nghiên cứu có nhiệm vụ thu thập tài liệu, nghiên cứu toàn diện mọi vấn đề về chính trị, hành chính, văn hóa, xã hội, kinh tế và tài chính có quan hệ đến dân tộc thiểu số. Như vậy có thể thấy rằng vị trí, vai trò quan trọng của công tác nghiên cứu đối với vấn đề dân tộc đã được quan tâm từ rất sớm, ngay từ khi mới thành lập cơ quan công tác dân tộc.

Ban Nghiên cứu của Nha Dân tộc thiểu số có thể được xem như tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học đầu tiên của Cơ quan Dân tộc và hoạt động nghiên cứu khoa học về công tác dân tộc đã trải qua chặng đường hơn 60 năm. Trong giai đoạn đầu, Ban Nghiên cứu tuy chưa phải là tổ chức như một cơ quan khoa hoc chuyên nghiệp, nhưng đã tiếp cận thực tiễn, vận dụng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng vào công tác dân tộc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với công tác dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của Uy ban Dân tộc (UBDT) hiện nay được củng cố, kiện toàn từ sau Nghị định 59/1998/NĐ-CP, ngày 13/8/1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBDT và Miền núi với việc thành lập Hội đồng Khoa học của Uy ban và sau đó là Viện Nghiên cứu Chính sách Dân tộc Miền núi. Đội ngũ cán bộ khoa học của các Vụ, đơn vị dần dần được tăng cường, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước, xây dựng chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện công tác dân tộc.

Hơn 10 năm qua, UBDT đã triển khai nghiên cứu hàng trăm đề tài khoa học cấp Bộ và các dự án điều tra cơ bản, thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường và nhiều chuyên đề nghiên cứu cấp cơ sở... Các đề tài nghiên cứu ngày càng thiết thực phục vụ trực tiếp và sát hợp với nhiệm vụ công tác dân tộc đặt ra. Nhiều ấn phẩm từ kết quả nghiên cứu của cơ quan UBDT với sự cộng tác của các nhà khoa học, chuyên gia quản lý ở nhiều bộ, ngành Trung ương và địa phương đã được công bố, cung cấp nhiều thông tin khoa học bổ ích, thiết thực góp phần nâng cao năng lực quản lý và hoạch định chính sách dân tộc, đặc biệt là góp phần tham gia xây dựng dự thảo nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc và gần đây giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư TW tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết. Tham gia xây dựng các đề tài, đề án quan trọng của Chính phủ về nâng cao năng lực quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc, về phát triển kinh tế-xã hội, về củng cố an ninh quốc phòng và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc.

Nhìn lại chặng đường hơn 60 năm qua hoặc nói gần hơn là hơn 10 năm qua, công tác nghiên cứu khoa học của UBDT cần tiếp tục tăng cường hơn nữa nhằm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới. Một số vấn đề sau đây, chúng tôi cho rằng cần được quan tâm:

1) Đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề lý luận về công tác dân tộc. Công tác dân tộc trong nhiều năm qua, đặc biệt hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thành quả rất quan trọng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều lúng túng và có thể nói chưa được nhận thức một cách đầy đủ và toàn diện lý luận công tác dân tộc. Việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện về lý luận công tác dân tộc nói chung và quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc nói riêng chưa được chú ý đúng mức.

 Công tác dân tộc là một bộ phận của cách mạng Việt Nam, một bộ phận của công tác dân vận, một lĩnh vực chính trị xã hội đặc thù, có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Do đó, việc nghiên cứu lý luận về công tác dân tộc cần đặt đúng tầm với vị trí vừa chiến lược, vừa cơ bản và vừa lâu dài của cả tiến trình cách mạng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Đến nay, khi bàn về các vấn đề lý luận dân tộc, công tác dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc chúng ta còn những bất cập khi đề cập đến các nội dung khái niệm, nội hàm cụ thể và còn nhiều ý kiến khác nhau không chỉ khi “Hội thảo khoa học” mà ngay cả trong triển khai những nhiệm vụ cụ thể của công tác dân tộc.

Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xem vấn đề gì là “cái gốc” để có cách nhìn và nâng cao nhận thức về lý luận cho đúng tầm, đúng bản chất và đặc trưng của vấn đề dân tộc, của công tác dân tộc hiện nay. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, xem đó là nhiệm vụ có vị trí chiến lược trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Những vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và chính sách dân tộc trong mấy chục năm qua, bên cạnh những thành quả bước đầu, còn bộc lộ nhiều vấn đề trong nhận thức về công tác dân tộc, trong quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc. Cơ quan công tác dân tộc trải qua nhiều tên gọi, nhiều lần thay đổi cả về nội dung và cơ cấu tổ chức bộ máy. Đến nay hệ thống cơ quan công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương vẫn chưa thật sự được kiện toàn một cách hoàn thiện. Chúng tôi cho rằng, phía sau đó phản ánh nhận thức về lý luận để soi vào thực tiễn, phản ánh một sự lúng túng trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc mà cái gốc xuất phát điểm là cơ sở lý luận, cơ sở khoa học chưa được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng, tương xứng để có thể đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay.

2) Nghiên cứu khoa học phải gắn với việc đề xuất và tham mưu trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc. Việc hoạch định chính sách dân tộc trong thời gian qua ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Các cơ quan chức năng đã nghiên cứu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách cụ thể góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi; xóa đói giảm nghèo; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường; giữ vững an ninh quốc phòng. Tạo nên sự biến đổi quan trọng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên cũng trong quá trình thực hiện một số chính sách, còn bộc lộ những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh bổ sung hoặc xây dựng mới những chính sách cụ thể, phù hợp.

Quy trình hoạch định chính sách là tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, khảo sát, kiểm tra và tổng kết thực tiễn, là sự tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia và các nhà quản lý. Chính sách dân tộc mang tính đặc thù liên quan đến các vấn đề kinh tế-xã hội, con người thuộc các nhóm dân tộc trên các địa bàn cụ thể khác nhau. Do tính đa dạng về địa lý, về trình độ phát triển kinh tế-xã hội, về văn hóa , về tâm lý, về phong tục tập quán... nên các chính sách đề ra với nội dung và phạm vi điều tiết của nó ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thường bộc lộ những hạn chế về nội dung cụ thể liên quan đến đối tượng hưởng thụ chính sách cụ thể. Đó là đặc điểm khá rõ nét vừa mang tính bao quát vừa mang tính cụ thể cần được tiếp tục nghiên cứu trong quá trình hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đào tạo nguồn nhân lực, củng cố hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng, nhất là từ khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 “Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội, miền núi” đến nay, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa đường lối của Đảng và chính sách cụ thể, các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội... Để hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với đặc thù của mỗi vùng miền, của từng đối tượng cụ thể và để chính sách ban hành sớm đi vào cuộc sống, chúng ta đã tiến hành phân định vùng dân tộc thiểu số theo điều kiện địa lý tự nhiên; theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội. Bước đầu tiên là phân định: miền núi, vùng cao, vùng có miền núi và vùng đồng bằng có dân tộc thiểu số sinh sống. Tiếp đó, phân chia vùng đồng bào dân tộc thiểu số thành 3 khu vực theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội (với 5 tiêu chí: về đời sống; về cơ sở hạ tầng; về các yếu tố xã hội; về điều kiện và về điều kiện tự nhiên của các địa bàn cư trú. Năm 1997 đã xác định” Khu vực I-Bước đầu phát triển, gồm 930 xã. Khu vực II- Tạm thời ổn định, gồm 1.855 xã. Khu vực III-Đặc biệt khó khăn, gồm 1.715 xã). Từ việc phân định này đã hình thành và triển khai thực hiện Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) từ năm 1998 đến nay.

Với việc lựa chọn các xã đặc biệt khó khăn, vùng nghèo nhất để tập trung đầu tư là sự đổi mới về nhận thức và phương pháp xây dựng chính sách dân tộc. Nếu như trước đây chúng ta xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc thường theo lộ trình “Dễ làm trước, tiến dần đến những vùng khó khăn hơn” thì nay đổi lại, chọn nơi khó nhất, nghèo nhất để tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ trợ. Đổi mới cách làm như vậy đã tác động góp phần rất lớn trong việc hạn chế sự “dãn ra” khoảng cách chênh lệch, phân cực giàu nghèo trong xã hội hiện nay, mà cực nghèo phần lớn “rơi vào” vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Đây là vấn đề cơ bản của việc đổi mới nội dung và phương thức công tác dân tộc hiện nay. Các huyện nghèo được lựa chọn để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo bền vững hiện nay theo Nghị quyết 30a cũng được tính toán, xác định theo hướng như trên.

Như vậy, định hướng của việc hoạch định chính sách dân tộc là tập trung chủ yếu ưu tiên đầu tư, hỗ trợ theo vùng đã mang lại kết quả to lớn, nhất là về kết cấu hạ tầng với phương châm mọi người dân thuộc mọi dân tộc, sinh sống tại các địa bàn khó khăn đều được thụ hưởng chính sách trong vùng của Chương trình đó. Tuy nhiên, chính sách theo vùng cũng có những hạn chế đối với địa bàn giáp ranh (xã và thôn bản) với các địa bàn các Chương trình mục tiêu nói trên, tuy có những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội tương tự nhưng không được hưởng chính sách, do không thuộc phạm vi chương trình bởi theo địa giới hành chính. Từ hiện tượng này có thể dẫn đến sự “so bì, thắc mắc” của người dân và có lúc cả cấp chính quyền địa phương, nếu không giải thích rõ và hiểu đúng dễ bị kích động, xuyên tạc “bất bình đẳng, không công bằng” của các thế lực thù địch. Do đó, đối với chính sách hỗ trợ cho vùng đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn phải tính tới đơn vị thôn bản, thậm chí tới từng hộ gia đình.

Tuy nhiên, khi thực hiện các chính sách này cần tránh cách làm kiểu “bình quân, cào bằng” hạn chế hiệu quả của chính sách hỗ trợ. Về chính sách cụ thể đối với một số dân tộc thiểu số quá ít người, rất đặc biệt khó khăn, cần có sự trợ giúp trực tiếp của Nhà nước (như các dự án đối với những dân tộc mà số dân chỉ vài trăm người: Brâu, Rơ Măm, Si La, Pu Péo, Ơ Đu mà hiện nay đang thực hiện) là cần thiết bởi sự mai một bản sắc văn hóa; tự mỗi dân tộc khó có thể giữ được phong tục, tập quán truyền thống, ngôn ngữ dân tộc, ý thức tự giác tộc người... theo các tiêu chí của một thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc nước ta. Hoặc cần có chủ trương chỉ đạo cụ thể đối với một số dân tộc như các Chỉ thị về tăng cường công tác dân tộc đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, đồng bào Chăm, đồng bào Hoa, đồng bào Mông... là rất cần thiết. Tuy vậy trên thực tế không thể và không bao giờ đặt ra: 54 chính sách riêng biệt cho 54 dân tộc”. Quá thiên lệch về chính sách cho những dân tộc cụ thể, dễ dẫn đến khuynh hướng dân tộc cực đoan, cục bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Xử lý đúng đắn, hài hòa việc ưu tiên hỗ trợ theo vùng và theo từng dân tộc cụ thể phải là nhận thức thống nhất mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện công tác dân tộc.

3) Nghiên cứu khoa học góp phần tham gia xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, mang tính chiến lược trong việc đào tạo một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu công tác dân tộc trước mắt và lâu dài, đáp ứng đòi hỏi của công tác dân tộc ngày một cao. Chương trình đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc là hệ thống các kiến thức lý luận, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, về công tác dân tộc; là hệ thống các kiến thức về quy trình tác nghiệp của cán bộ làm công tác dân tộc trong thực tiễn. Để xây dựng được chương trình đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc không phải là quá trình giản đơn tập hợp kiến thức sẵn có, mà là quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công phu cả về lý luận và thực tiễn. Nội dung chương trình đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc có tác động rất lớn đến hiệu qủa, chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp của hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc. Gắn kiến thức nghiệp vụ công tác dân tộc với thực tiễn công tác, chủ động nắm bắt vấn đề, sâu sát và am hiểu phong tục, tập quán, tâm tư tình cảm, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc để suy nghĩ, tham mưu, đề xuất bổ sung, chỉnh sửa hoặc xây dựng mới các chính sách cụ thể phù hợp và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

4) Xác định trọng tâm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của cơ quan công tác dân tộc trong giai đoạn tới đây, cần tập trung một số vấn đề sau:

- Xây dựng chương trình, kế hoạch đưa tiến bộ khoa học-kỹ thuật và chuyển giao khoa học-công nghệ tiên tiến vào vùng dân tộc thiểu số nhằm đẩy mạnh sản xuất, thực hiện hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội.

-Nghiên cứu các vấn đề về thành phần dân tộc (đặc điểm cơ bản, tiêu chí dân tộc, vấn đề tộc danh...). Xây dựng cơ sở dữ liệu về các dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực người DTTS một cách tổng hợp và toàn diện.

- Nghiên cứu đặc điểm, bản sắc văn hóa các dân tộc; cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của các dân tộc.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đề xuất giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc gắn với việc thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.

- Tăng cường công tác thông tin khoa học trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc và các Bộ, ngành, địa phương phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý, xây dựng chính sách dân tộc.

- Củng cố tổ chức cơ quan nghiên cứu khoa học của UBDT (Hội đồng khoa học, Viện Dân tộc, Trường Cán bộ Dân tộc) xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học dài hạn và từng năm phục vụ quy hoạch và chiến lược phát triển vùng dân tộc.

- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc phục vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách, chương trình, dự án... phát triển vùng dân tộc.

Chính sách dân tộc là cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến các thành phần dân tộc, đến mối quan hệ giữa các dân tộc trong nước và quan hệ với các quốc gia dân tộc trên thế giới. Xét về mục tiêu, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta không có gì khác là khai thác mọi tiềm năng đất nước để phục vụ nhân dân, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đưa đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đó chính là thực tiễn sinh động khẳng định ở nước ta “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

(1)Sắc lệnh số 58, ngày 3/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,260,576


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs