Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Lục Khu, bao giờ cho hết khát?

 19/11/2009

Nước rửa rau, rửa chân tay được trữ lại cho trâu bò uống.

Cho đến bây giờ, ông già Vương Văn Páng, bản Kéo Sỹ, xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng vẫn còn nhớ như in những câu căn dặn của cha: “Giọt nước ở Lục Khu này quý hơn cả vàng, phải sử dụng sao cho tiết kiệm nhất”. Biết bao thế hệ trôi qua, nhưng người dân ở Lục Khu - Cao Bằng vẫn bị nỗi ám ảnh triền miên là thiếu nước sinh hoạt.

Một năm hai tháng thiếu nước

Lục Khu là tên gọi của người Pháp trước đây đặt cho 6 khu vực thuộc vùng núi đá giáp ranh biên giới Việt–Trung, hiện nay gồm 12 xã (trong đó có 9 xã giáp đường biên giới) thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Địa hình núi đá xếp tầng, không có sông suối, lại ít mưa nên nhiều nỗ lực tìm kiếm nguồn nước ngầm tại đây đều thất bại. Nước sinh hoạt của bà con các dân tộc Nùng, Tày, Mông ở đây chỉ còn biết trông vào nước mưa. Ngoài Nậm Lũng có nguồn nước dồi dào do có mỏ nước còn hầu hết các xã khác đều ở trong tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Trong đó Thượng Thôn, Cải Viên là những xã bị thiếu nước trầm trọng nhất.

Theo chân những người lính biên phòng, chúng tôi đến được nhà già Dương Văn Thìn, bản Nậm Niệc, xã Cải Viên. Đang mùa mưa nên hai bể vuông đầy ăm ắp nước. Mới đi rẫy về, già đang múc từng ca nước rửa tay chân. Do thói quen già cũng chỉ múc từng ca nhỏ rửa qua loa như sợ bể nước sẽ cạn mất. Già Thìn trầm ngâm kể lại: “Từ thời cha ông mình, khi chưa xây những bể lu, bể vuông chứa nước như hiện nay thì vào mùa khô tầm tháng 12 âm lịch đến tháng 2, người dân Nậm Niệc lại kéo xuống mỏ nước ở Vân An cách đó mấy cây số để gánh nước về. Người đi lấy nước đông như đi hội. Nước được múc nhiều quá sủi bọt đỏ ngàu nhưng vẫn phải lấy về dùng...”.

Bây giờ người dân ở bản Nậm Niệc cũng như các khu vực khác ở Lục khu không phải lên núi hứng nước nữa, vì mỗi nhà đều đã có bể vuông hoặc bể lu trữ nước mưa. Nhưng một năm vẫn mất 2 tháng thiếu nước trầm trọng.

Có bể vẫn khát

Lục Khu có khoảng 3.136 hộ và 17.529 nhân khẩu, trung bình mỗi hộ phải “sắm” 2 bể chứa nước. Ngay từ tháng 4- 5 âm lịch, bà con trong bản đã tích trữ nước đầy các bể. Cách hứng nước mưa cũng lắm kiểu: hứng từ mái ngói, tôn lợp để ăn uống; hứng từ mái lợp bằng tấm prôximăng sử dụng vào việc tắm giặt, cho trâu bò uống.

Từ ngày bản Rằng Hán tách thành bản mới, bản Kéo Sỹ (xã Tổng Cọt) chỉ còn hơn 50 hộ người Nùng nằm lọt thỏm giữa lũng. Đi từ trung tâm xã ở lũng Tổng Cọt (nằm trên trục đường 210 tỉnh Cao Bằng) lên tới bản Kéo Sỹ phải leo dốc mất gần một giờ đồng hồ. Chúng tôi đến được nhà trưởng thôn Sầm Văn Ruóng nằm trên bản Kéo Sỹ. Trước nhà Ruóng có một bể vuông to với sức chứa được khoảng 6 m3 nước. Và thêm 3 bể lu mỗi cái chứa được 2m3. Ruóng cho biết: “Cả nhà mình có 5 nhân khẩu, 8 con lợn và mấy con trâu, ngựa. Mỗi năm mùa hạn kéo dài từ 3-5 tháng, cả nhà phải dùng tằn tiện thì đủ nước dùng”.

Nhưng không phải hộ gia đình nào trong bản cũng có bể vuông. Chỉ những nhà nào khá giả như nhà Ruóng mới có. Còn lại hầu hết đều chỉ có hai bể lu. Bên cạnh nhà của Ruóng là nhà của Hoàng Văn Dự. Nhà Dự có một bể vuông, và 3 cái bể tròn không có nắp đậy. Tất cả các bể này đều được Nhà nước hỗ trợ từ năm 1986. 3 chiếc bể vì nghèo không có tiền làm nắp đậy nên cứ đến mùa khô là nước bốc hơi hết. Năm nào cứ tới độ tháng 2 âm lịch, là hai vợ chồng nhà Dự lại xuống Tổng Cọt lấy nước về dùng. Trâu bò trong nhà cứ tới mùa thì lại đem bán rẻ hoặc cứ 2-3 ngày lại đuổi xuống Tổng Cọt một lần cho uống nước. “Mỗi ngày, hai người gánh được hai lu nước khoảng 60 lít về đủ dùng cho gia đình trong hai ngày. Nhiều khi đang đi lên núi, sắp về tới bản thì vấp phải đá, té ngã, lu nước vỡ tan. Coi như công cả ngày không còn”.

Hầu hết các xã trong Lục Khu đều có bể chứa nước công cộng với sức chứa gần 800m3. Dùng hết bể cá nhân, dân bản sẽ dùng đến bể chứa công cộng. Nhưng khả năng giải quyết nhu cầu nước của dân bản vẫn chẳng thấm vào đâu. Thượng Thôn, xã khó khăn nhất về nước cũng đã được Nhà nước hỗ trợ xây dựng một bể nước công cộng với dung tích gần 800m3 nhưng được một thời gian bể hỏng tấm chống thấm nước, từ đó đến nay không sử dụng được nữa.

Các bể chứa nước trong khu vực khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Theo anh Dương Văn Thọ, Chủ tịch UBND xã Cải Viên cho biết, năm 2006 đã có đoàn địa chất lên Cải Viên nằm vùng khoan thăm dò mạch nước nhưng cũng đành bó tay. Vì vậy chỉ còn cách làm bể trữ nước mưa thật lớn mới đủ dùng cho gần 230 hộ dân. Vấn đề gay go nhất là dân bản nghèo quá, không có tiền xây thêm bể. Mà người thì cứ đông dần lên nên càng ngày càng thiếu nước. Đặc biệt là những hộ gia đình trẻ mới ra ở riêng vẫn phải dùng chung bể nước với gia đình bố mẹ. Riêng xã Cải Viên vẫn còn hơn 120 hộ dân mới ra ở riêng chưa có bể nước.

Chuyện thiếu nước ở Lục Khu đã trở thành chuyện thường ngày. Toàn huyện có hơn 7.000 bể nước do Nhà nước đầu tư nhưng hầu như đã cạn kiệt. Bí thư Đảng ủy xã Lũng Nặm - Mã Văn Thàng tâm sự: “Hàng chục năm qua, tìm nước cho Lục Khu luôn là bài toán khó. Huyện đã đầu tư hàng chục tỷ đồng khoan thăm dò nước nhưng chỉ 2 mũi có nước ở độ sâu hơn 100m”.

Lê San

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,300,220


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs