Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/11/2009
Nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm


Hà Nội có nhiều di sản văn hóa, lịch sử vật thể và phi vật thể. Nhưng hơn hết, đó là di sản trong tâm hồn mỗi con người. Dẫu cuộc sống còn những bộn bề, lo toan, biết bao người Hà Nội đã và đang lặng lẽ giữ gìn những nét văn hóa truyền thống của Thủ đô. Đó là nền móng vững chắc để giữ gìn, xa hơn là nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm.

Tiết thu đang tràn ngập các nẻo đường Hà Nội. Nắng đã nhạt bởi cái hanh hao của heo may. Đâu đây góc phố nhỏ hương cốm tỏa lan từ những gánh hàng của các mẹ, các chị. Với nhiều người Hà Nội, mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Và mỗi độ thu về, thành phố lại rực rỡ cờ hoa - như một sự sắp đặt ngẫu nhiên: mùa thu luôn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước và Thủ đô nghìn năm yêu dấu. 999 năm trước, vào một ngày thu, Vua Lý Thái Tổ xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Suốt mấy trăm năm bao vương triều hưng vong, nhưng vị thế kinh đô của Thăng Long không hề thay đổi. Những người đỗ đạt qua các kỳ thi về với kinh đô góp công cùng chính quyền xây dựng đất nước. Những người thợ tài khéo muôn nơi tụ về kinh kỳ để lập nên 36 phố phường... Kinh đô Thăng Long trở thành nơi hội tụ, chắt lọc tinh hoa của đất nước, hình thành truyền thống văn hiến, nếp sống thanh lịch. Hơn chín trăm năm sau ngày Vua Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long, những con người của thời đại Hồ Chí Minh đã tiếp tục viết nên những trang sử vàng trong lịch sử dân tộc. Mùa thu năm 1945, Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội trở lại vị thế Thủ đô của đất nước. Chín năm sau, ngày 10/10/1954 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử Hà Nội khi những anh Bộ đội Cụ Hồ trở về giải phóng Thủ đô.

Với bề dày lịch sử, Hà Nội có biết bao di sản. Đó là Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ Hà Nội, làng cổ Đường Lâm, làng cổ Đông Ngạc... Nhiều nhân tài tụ về Thăng Long khiến văn hóa tinh thần của Hà Nội mang bản sắc riêng. Nói đến văn hóa tinh thần, ca trù là niềm tự hào của người Hà Nội. Mặc dù loại hình nghệ thuật này cũng tồn tại ở một số địa phương khác, nhưng trên đất Thăng Long, ca trù thể hiện mọi nét tinh túy khi được “cộng hưởng” với nền văn hóa giàu tính bác học, với nét hào hoa của người Hà Nội. Bởi thế, nó được xem là “đặc sản” của đất Thăng Long. Đúng vào dịp kỷ niệm 999 năm Thăng Long - Hà Nội và 55 năm Ngày giải phóng Thủ đô, ca trù được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhân dân cả nước vui mừng khi di sản văn hóa của cha ông giờ đã được cả thế giới thừa nhận. Nhưng cũng như nhiều di sản văn hóa khác, cùng với niềm vui là những băn khoăn, ca trù đứng trước thách thức bảo tồn, phát huy, nhất là khi di sản này được xếp vào loại “cần bảo vệ khẩn cấp”. Cách đây mấy năm, khi các nhà khoa học mới rục rịch làm hồ sơ để công nhận Di sản văn hóa cho ca trù, chúng tôi đã gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi - Chủ nhiệm Câu lạc bộ ca trù Thái Hà, hậu duệ một dòng họ hát ca trù nổi tiếng ở ấp Thái Hà khi xưa. Ngay từ lúc ấy, ông Mùi đã trải lòng những băn khoăn về ca trù: Nếu được công nhận thì mừng quá, nhưng giá như có những biện pháp bảo tồn cụ thể thì hay biết mấy.

Gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi vốn là dòng họ có nhiều ca nương, kép đàn phục vụ trong cung đình nhà Nguyễn. Bản thân chỉ là một tay trống chầu, ông Mùi không đủ điều kiện truyền nghiệp tổ tiên cho con (các yếu tố tạo nên một canh hát gồm có đàn, hát, trống chầu), nhưng nghĩ đến trách nhiệm với dòng họ, ông Mùi vẫn tìm mọi cách để mạch chảy văn hóa gia đình mình không đứt.

 Ông gửi gắm con cái đến những nghệ nhân có tiếng, để rồi hai người con trai ông: Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Mạnh Tiến trở thành hai kép đàn, cô con gái Nguyễn Thị Hòa được đích thân nghệ nhân Quách Thị Hồ dạy dỗ trở thành một ca nương. Năm 1995, giữa thời buổi còn khó khăn, Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà đã ra đời, thành viên gồm toàn những người trong gia đình. Hiện nay, Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà đã có những ca nương “nhí”, Nguyễn Thu Thảo, Nguyễn Kiều Anh, cháu nội của nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi. Hơn ai hết, gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi nếm trải nhiều đắng cay với ca trù. Tạm gác lại một thời ca trù bị lãng quên do sự nhầm lẫn giữa một loại hình văn hóa với một thú vui, sang đến thời đất nước đổi mới, chủ trương khôi phục, bảo tồn các di sản văn hóa của Đảng, Nhà nước được triển khai, số phận ca trù vẫn cứ long đong. Nói một cách nôm na, không tạo điều kiện cho nghệ nhân ca trù sống được bằng nghề hát, thì dù có tâm huyết đến mấy, nhiệt huyết và lòng đam mê cũng ít nhiều bị tác động bởi cơm áo gạo tiền. Nếu ai quan tâm đến ca trù, sẽ thông cảm cho trăn trở của người nghệ nhân già: Năm 2002, một khóa đào tạo ca trù quy mô được tổ chức, song nó được thực hiện bởi nguồn kinh phí do Quỹ Ford tài trợ. Từ đó đến nay, việc đào tạo những thế hệ kế cận cho ca trù, vẫn trông chờ vào tấm lòng của những người nghệ nhân.

Trên địa bàn Thủ đô, mấy năm trước, hát chèo Tàu cũng từng được xếp vào danh sách “ứng viên” trở thành Di sản văn hóa phi vật thể. Chèo Tàu là loại hình diễn xướng dân gian ca ngợi thành hoàng Tổng Gối (tức xã Tân Hội - huyện Đan Phượng) Văn Dĩ Thành, cũng là “đặc sản” chỉ địa phương này có. Hội hát chèo Tàu xưa huy động tới mấy trăm người tham gia hoạt động diễn xướng dân gian nên 25 năm hội hát mới được tổ chức một lần. Năm 1922, là lần cuối cùng hội hát được tổ chức quy mô. Sau một thời gian dài lãng quên, mãi đến năm 1998, bằng nhiều nỗ lực của chính quyền và nhân dân địa phương, hội hát chèo Tàu mới được tái hiện, nhưng không khí và quy mô còn kém xa hội hát thủa trước. Khi đến Tân Hội, tôi gặp bà “cái tàu” (vai diễn quan trọng nhất trong hát chèo Tàu) Nguyễn Thị Thu vừa đi cấy ruộng về, bà Thu đon đả: “Mê chèo Tàu chỉ khổ chồng con thôi”. Thật ra cả nhà đều ủng hộ bà Thu hát chèo Tàu, nhưng bà Thu không phải không có lý. Để học hát chèo Tàu, để chuẩn bị biểu diễn, cả tháng trời bà phải cùng mọi người trong Câu lạc bộ chèo Tàu luyện tập, chưa kể phải mua sắm trang phục biểu diễn với kinh phí gần như tự túc hoàn toàn. Hát chèo Tàu rộ lên một thời, nhưng khi chèo Tàu lỡ “chuyến tàu” Di sản Văn hóa phi vật thể thế giới, không ít người đã nhanh chóng quên mất sự góp mặt của di sản này trên bản đồ văn hóa. Riêng với người dân xã Tân Hội, trước sau như một, tình yêu chèo Tàu vẫn cháy bỏng. Thời gian gián đoạn khá lâu, việc lần tìm lại chèo Tàu nguyên bản là hết sức khó khăn, người Tân Hội vẫn nỗ lực hết mình. Theo truyền thống, tham gia hội hát chỉ có phụ nữ, nhưng không vì thế đàn ông khoanh tay đứng nhìn. Những “trí thức làng” như các ông Đông Sinh Nhật, Đào Văn Hà... vẫn đang dày công tìm lại các câu hát cổ cũng như làm sáng tỏ nguồn gốc của chèo Tàu.

Đất nước và Thủ đô đang trước ngưỡng cửa của sự kiện trọng đại - kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trước thềm sự kiện trọng đại này, Hà Nội tổ chức 55 sự kiện mừng 999 năm Thăng Long - Hà Nội, mừng 55 năm Giải phóng Thủ đô như một cuộc tập dượt cho ngày Đại lễ. Cả nước háo hức chờ ngày Đại lễ, nhưng liệu có ai đó tự hỏi, sau Đại lễ, Hà Nội sẽ như thế nào? Những công trình được xây dựng, những việc làm được hôm nay, sẽ trở thành những di sản cho con cháu nhiều năm sau nữa. Hẳn nhiên, những công trình, những phần việc sẽ đi vào sử sách, nhưng có một điều cũng chắc chắn không kém, là thái độ ứng xử với di sản văn hóa của cha ông chúng ta hôm nay, cũng sẽ được thế hệ sau phán xét. Hà Nội có kho báu di sản, trong đó, có di sản tâm hồn mà đam mê của gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi hay của những nghệ nhân chèo Tàu chỉ là một trong nhiều, rất nhiều thí dụ. Đó chính là hòn đá tảng, là nền móng vững chắc để chúng ta giữ gìn, xa hơn là nhân lên truyền thống văn hóa nghìn năm.

Giang Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,903,605


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs