Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/11/2009
Tác động của quá trình đô thị hoá đối với sự phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số miền Trung - Tây Nguyên


Tây Nguyên ngày hội

Đô thị hoá là một quá trình có tính quy luật trong sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Sự hình thành, phát triển của đô thị xét đến cùng được quy định bởi yêu cầu của sự phát triển sản xuất. Từ xã hội nông nghiệp, nông thôn chuyển sang xã hội công nghiệp, đô thị hoá luôn chịu sự tương tác qua lại của những quy luật bảo lưu, kế thừa, đổi mới và phát triển. Sự tác động của quá trình đô thị hoá đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của khu vực miền Trung - Tây Nguyên cần phải được xem xét trên tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội, cả lịch sử lẫn hiện tại; cả phong tục tập quán lẫn những yếu tố văn minh hiện đại; cả tích cực lẫn tiêu cực.

Quá trình đô thị hoá ở nước ta gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xét ở một khía cạnh nào đó là quá trình có tính kinh tế - kỹ thuật nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa; nét đặc trưng của quá trình đó là đưa đến sự đổi thay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tăng cường tỷ trọng, vai trò của công nghiệp, dịch vụ, đồng thời giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Phù hợp với quá trình đó là sự thay đổi trong cơ cấu lao động xã hội theo hướng thay thế lao động thủ công, cơ bắp bằng lao động kỹ thuật, cơ khí và từng bước tự động hoá.

Xét từ phương diện xã hội, thì quá trình đô thị hoá là quá trình giải thể cơ cấu nông nghiệp, nông thôn sang xã hội công nghiệp đô thị, hiện đại. Thích nghi với quá trình ấy cũng là sự chuyển đổi về tập quán, những quan niệm cổ truyền, những vấn đề văn hoá - xã hội khác của những cư dân nằm trong quá trình đô thị hoá.

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực miền Trung - Tây Nguyên, do sự tác động các chính sách của chủ nghĩa thực dân (cả cũ và mới) trước đây cơ sở vật chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ít nhiều đã làm cho hoạt động kinh tế của đồng bào các dân tộc có nhiều yếu tố mới. Các đồn điền đã thu hút một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số thành những công nhân nông nghiệp, một bộ phận khác trở thành những người làm thuê theo mùa. Những chính sách đầu tư cho nông nghiệp của chính quyền Sài Gòn cũng đã tác động đến vùng dân tộc thiểu số làm phân hoá nhất định nền kinh tế truyền thống, tạo ra những hình thức canh tác mới bên cạnh những hình thức canh tác cổ truyền. Đến năm 1975, đối với đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền Trung - Tây Nguyên có thể phân chia thành 3 vùng khác nhau:

Vùng đô thị, kể cả vùng ven và dọc theo các trục giao thông chịu tác động nhiều nhất của chủ nghĩa thực dân. Một bộ phận trí thức người dân tộc làm việc trong quân đội và chính quyền Sài Gòn, một số trở thành những tiểu chủ, tiểu thương; một số nơi của đồng bào dân tộc, chế độ tư hữu có điều kiện để phát triển; sự tác động của kinh tế hàng hoá từng bước phá vỡ tính tự cấp, tự túc; công cụ sản xuất và tiện nghi sinh hoạt hiện đại (lúc bấy giờ) đã được đồng bào sử dụng.

Vùng nông thôn, chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, cuộc sống của người dân không ổn định. Đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng này dường như còn giữ nguyên vẹn phương thức kinh tế cổ tuyền. Nền kinh tế nương rẫy, cùng với trình độ dân trí thấp, cho nên đời sống chẳng những không được cải thiện mà còn đẩy họ lùi vào những nơi xa xôi, hẻo lánh và lạc hậu hơn.

Vùng căn cứ cách mạng, đã hình thành nhiều hình thức tương trợ trong lao động sản xuất, nhiều yếu tố kỹ thuật mới đã được vận dụng đưa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng do tàn phá nặng nề của chiến tranh nên đời sống vật chất của đồng bào chưa có được những thay đổi lớn. Người dân được cởi mở trong đời sống tinh thần, những tập tục lạc hậu từng bước được hạn chế, những quan hệ mới, văn hoá mới từng bước được hình thành.

Từ năm 1975, cùng với việc khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại là việc hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương - mà nhất là Tây Nguyên đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của khu vực (trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số) không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà cả văn hoá - xã hội.

Trước hết, hệ thống giao thông, so với các vùng trung du và miền núi của cả nước, thì vùng đồng bào dân tộc thiểu số của cả khu vực nói chung và Tây Nguyên nói riêng có hệ thống đường giao thông phát triển. Tây Nguyên có 14 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 2.100 km; 57 tuyến tỉnh lộ với chiều dài với tổng chiều dài 1.900 km; hàng trăm tuyến đường huyện, liên xã với tổng chiều dài khoảng 13.000 km. Hệ thống giao thông phát triển, tạo thuận lợi cho việc giao thương xuống các tỉnh duyên hải miền Trung cũng như các tỉnh, thành của phía Nam, và sang hai nước bạn Lào, Campuchia thông qua các cửa khẩu. Giao thông phát triển, hệ thống chợ cũng hình thành, nhanh chóng giữ vị trí đầu mối kinh tế và ảnh hưởng ngày càng sâu vào khu vực nông thôn, tác động trực tiếp đến các buôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số, thu hút đồng bào tham gia trao đổi hàng hoá và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới.

Bên cạnh hệ thống giao thông phát triển, có 98% số xã có điện lưới quốc gia. 100% xã phường có trạm y tế; 100% phủ sóng phát thanh, nối mạng thông tin viễn thông; 83% số xã có bưu điện văn hoá xã.

Đô thị hoá đã tạo điều kiện để cơ cấu kinh tế chuyển biến đúng hướng. Tỷ trọng kinh tế nông - lâm nghiệp trong sản phẩm xã hội nhìn chung có chiều hướng giảm. Công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế có nâng lên. Trong nông nghiệp thì cây lương thực vẫn được coi trọng và chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh, tăng vụ. Các loại cây công nghiệp ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây trồng. Sản xuất lâm nghiệp từ chỗ khai thác là chủ yếu đã chuyển dần sang trồng, chăm sóc và chế biến. Song song với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã tạo điều kiện để giải quyết việc làm mới cho nhân dân trong vùng, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số. Đối với Tây Nguyên, các doanh nghiệp cao su trực thuộc Tổng công ty cao su Việt Nam đã thu hút 3.996 công nhân là người các dân tộc thiểu số, chiếm 33,2%.

Công ty cao su Đăk Lăk, trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk, thu hút 1.111 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 26,53%.

Một số doanh nghiệp cà phê, trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk thu hút 696 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 16,43%.

Một số doanh nghiệp cà phê tuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam thu hút 2.184 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 19,51%.

Một số doanh nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Nông thu hút 78 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 4,3%.

Binh đoàn 15 thu hút 738 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 9,98%.

Một số doanh nghiệp cà phê trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai thu hút 1.521 công nhân người dân tộc thiểu số, chiếm 21,49%.

Cơ cấu kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chuyển dịch nhưng chưa thật vững chắc; nông - lâm nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng cao (riêng Tây Nguyên chiếm 50,81%); các lĩnh vực sản xuất nói chung tăng trưởng chưa bền vững.

Giáo dục, văn hoá và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân cũng đạt được những thành tựu đáng kể; quá trình đô thị hoá đời sống nhân dân nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng cũng được cải thiện đáng kể. Nhiều yếu tố văn hoá mới đã được đồng bào các dân tộc tiếp thu, đồng thời nhiều tập tục lạc hậu đã bị loại bỏ dần. Từng bước phục hồi các lễ hội như đua voi, cồng chiêng và các lễ hội truyền thống như lễ đâm trâu, mừng lúa mới, cúng bến nước, bỏ mả, mừng sức khoẻ và cầu mưa... Các thiết chế văn hoá buôn làng như: Trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nhà rông văn hoá, mô hình buôn làng văn hoá kiểu mẫu tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk được xây dựng.

Sự có mặt ngày càng đông người Kinh ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã làm thay đổi nhanh cơ cấu dân cư và ảnh hưởng lớn đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa người Kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số đã làm cho mối quan hệ giữa người Kinh với đồng bào dân tộc, vốn bị chủ nghĩa thực dân tìm mọi cách chia rẽ, nay xích lại gần nhau hơn, việc trao đổi mua bán giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số ở các buôn, làng và các chợ mới hình thành đã làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số quen với kinh tế hàng hoá và kích thích họ sản xuất hàng hoá.

Sau gần 35 năm thống nhất đất nước, với nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước, đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những thay đổi nhất định; nhiều nơi đã thoát khỏi thời kỳ tự cung, tự cấp, thiếu lương thực triền miên; tỷ trọng sản phẩm hàng hoá ngày một tăng, nhiều mặt hàng xuất khẩu có thị phần lớn trong khu vực và thế giới; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số sự chênh lệch về trinh độ phát triển vẫn còn khá rõ nét trên 3 khu vực sau:

Khu vực I: các xã, phường, thị trấn gần với các trung tâm thành phố, thị xã khu công nghiệp, trung tâm thương mại. ở khu vực này đã có những chuyển biến tốt về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặt khác, các xã khu vực I gần với tỉnh lộ, quốc lộ nên việc giao lưu đi lại, trao đổi sản phẩm hàng hoá thuận tiện đã góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng khá.

Khu vực II: đời sống của đồng bào tạm ổn nhưng chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao. Tuy các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số của khu vực này có đường giao thông cho xe cơ giới đến tận trung tâm xã, nhưng đa số tuyến đường này chỉ thực hiện thuận lợi trong mùa khô, còn mùa mưa thì đi lại khó khăn, thậm chí có nhiều tuyến đường không lưu thông được; trường học, bệnh xá các dịch vụ khác chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

Khu vực III: đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao; cơ sở hạ tầng yếu kém, đi lại khó khăn. Các công trình điện, thuỷ lợi, nước sạch, trường học, bệnh xá, các dịch vụ xã hội khác chưa đáp ứng được yêu cầu. Điều kiện sản xuất, canh tác còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; đời sống của đồng bào chủ yếu dựa vào nông nghiệp và rừng; hầu hết diện tích đất sản xuất dựa vào điều kiện tự nhiên, không chủ động được tưới tiêu; nhiều nơi còn xảy ra tình trạng phá rừng làm rẫy, có nơi vẫn còn du canh du cư.

Với thực tế trên thì quá trình đô thị hoá cũng như sự tác động của quá trình này đối với đồng bào các dân tộc thiểu số phải trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ việc định canh định cư; vấn đề đất đai; xoá đói giảm nghèo; giải quyết việc làm; nhà ở, nước sạch; giáo dục, y tế và nhiều vấn đề xã hội khác. Những nội dung trên nằm trong tổng thể chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và được thể hiện cô đọng tại Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) về công tác dân tộc. Trên tinh thần chung đó, để quá trình đô thị hóa tác động đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của khu vực, theo tôi nên chú ý những nội dung sau:

Thứ nhất, lĩnh vực kinh tế:

ở những vùng có điều kiện thì phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hình thành các khu sản xuất tập trung, có cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý.

Gắn nông, lâm nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường trong và ngoài nước; nâng cao dần mức thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác. Có chính sách khuyến khích và ưu đãi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào nông, lâm nghiệp.

Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với yêu cầu tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng sản phẩm; không nên mở rộng diện tích cây lương thực bằng mọi giá. Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệp như: cà phê, cao su, chè... hình thành các vùng rau, hoa, quả có giá trị kinh tế cao gắn với việc hình thành các cơ sở chế biến.

Phát triển mạnh công nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển ngành nghề, du lịch và dịch vụ. Trước hết, là rà soát lại các cơ sở công nghiệp chế biến cao su, cà phê, điều, bông, tằm tơ, chế biến lâm sản, rau quả, lương thực, thức ăn gia súc, phân bón, vật liệu xây dựng... từ đó quy hoạch và đầu tư các cơ sở chế biến với quy mô phù hợp và công nghệ hiện đại, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh cao nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển nông nghiệp và xuất khẩu hàng hoá. Ngoài ra, cũng phải tính đến việc hình thành các khu công nghiệp tập trung và phát triển công nghiệp năng lượng để khai thác tiềm năng thuỷ điện.

Chú trọng phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gắn với địa bàn nông thôn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Phát triển được tiểu thủ công nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ chuyển được một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số.

Phát triển nhanh các hoạt động dịch vụ trong các thành phần kinh tế, trước hết là xây dựng các khu du lịch sinh thái trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khôi phục các buôn, làng truyền thống phục vụ khách tham quan, du lịch.

Thứ hai, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thôn, buôn. Các địa phương nên xây dựng một chương trình tổ chức sản xuất toàn diện, trong đó công tác khuyến nông, khuyến lâm phải triển khai đến tận thôn, buôn; đưa cán bộ kỹ thuật xuống cơ sở, cầm tay chỉ việc, hướng dẫn tổ chức lại sản xuất cho từng hộ; đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học-kỹ thuật để phát triển sản xuất. Nhà nước đầu tư, cung ứng giống vật nuôi, cây trồng đến hộ đồng bào.

Khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo nhiều việc làm; có chính sách cho các gia đình nghèo tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá thông tin. Có chính sách khuyến khích các cơ sở kinh doanh tiếp nhận lao động dân tộc thiểu số kết hợp làm ăn với phương thức: đất đai, lao động của dân + đầu tư vốn, kỹ thuật của doanh nghiệp; xây dựng các chương trình chuyển giao kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho đồng bào ở những địa bàn khó khăn.

Lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn với xoá đói giảm nghèo. Tập trung giải quyết vấn đề nhà ở, đất sản xuất cho những gia đình nghèo; tạo bước đột phá về xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo với các hình thức, biện pháp thích hợp trên tinh thần đa dạng hoá việc huy động nguồn lực, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng.

Thứ ba, xây dựng kết cấu hạ tầng, trước hết là đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi phục vụ yêu cầu sản xuất lúa nước, trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả; phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân - nhất là vùng cao, vùng khan hiếm nước, giải quyết vấn đề này có thể từ các giếng đào, giọt nước, và các công trình nước tự chảy.

Có chính sách hỗ trợ thoả đáng cùng với các địa phương huy động sức dân nhằm phát triển hệ thống giao thông nông thôn; nâng cấp các tuyến đường đã có, phấn đấu đến năm 2010 tất cả các xã đều có đường cho xe cơ giới lưu thông tới trung tâm xã, trên 70% số buôn, làng có đường lưu thông được trong cả hai mùa.

Chú trọng phát triển hệ thống điện, cung cấp điện có hiệu quả cho sản xuất và sinh hoạt; đối với những vùng chưa có điện hoặc xa lưới điện quốc gia, Nhà nước cần hỗ trợ để phát triển nguồn điện năng tại chỗ, đến năm 2010 tất cả các xã đều có điện, 85% thôn, buôn có điện.

Xây dựng kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhằm mục tiêu là khắc phục sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng. Do đó, cần dành nguồn lực thoả đáng cho việc giải quyết những nhu cầu cấp bách về kết cấu hạ tầng, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, những nới vừa tiến hành định canh định cư.

Thứ tư, về văn hoá -xã hội.

Tính tổng thể của chính sách này là xây dựng đời sống văn hoá nông thôn, bảo vệ những thuần phong mỹ tục. Đẩy mạnh phong trào xây dựng thôn, buôn văn hoá; xây dựng tình làng nghĩa xóm, tương trợ giúp đỡ nhau trong cộng đồng dân cư; phát triển y tế, giáo dục, xây dựng con người có phẩm chất, lối sống, đạo đức lành mạnh; tăng cường có hiệu quả hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng; phủ sóng phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc; tiếp tục thực hiện cấp không thu tiền các ấn phẩm báo chí phục vụ vùng sâu, vùng xa. Mở rộng hệ thống trường Dân tộc nội trú, tạo điều kiện thuận lợi nhất để con em đồng bào dân tộc thiểu số được học hành.

Đô thị hoá là cả một quá trình, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số quá trình ấy có thể sẽ lâu dài hơn, những vấn đề nêu trên chỉ là những nét chấm phá (chưa thật sự đầy đủ cơ sở), nhưng cũng có thể tham khảo và vận dụng vào điều kiện cụ thể của những vùng nhất định.

PGS. TS. Nguyễn Văn Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,903,177


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs