Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/11/2009
Trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc thiểu số: Thực trạng và giải pháp


Sinh viên tình nguyện Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn vi tính cho thanh niên xã Ia Phang - Chư Sê (Gia Lai)

Trong bối cảnh cả nước đang thực hiện chủ trương hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và đẩy nhanh tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng trở nên quan trọng. Vùng dân tộc thiểu số hiện còn rất nghèo, chậm phát triển, để phát triển nhanh kinh tế - xã hội, thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững, thì vai trò của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ người dân tộc thiểu số là rất to lớn.

 Các nhà khoa học là người dân tộc thiểu số, hiểu văn hóa, phong tục, tập quán, ngôn ngữ và những đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng dân tộc, thì mới tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo có hiệu quả và bền vững.

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức khoa học người dân tộc, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên, tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số như: miễn giảm toàn bộ học phí cho con em đồng bào dân tộc vùng cao đến trường; cấp không thu tiền sách, vở, đồ dùng học tập cho các em học sinh vùng đặc biệt khó khăn các xã 135; cử tuyển, xét tuyển các em học sinh dân tộc vào học ở các trường dự bị đại học để tạo nguồn đào tạo trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc; cử tuyển các em đã tốt nghiệp lớp 12 người dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn, xã 135 vào học ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp...

Nhờ thực hiện hệ thống chính sách dân tộc, hàng năm có trên 80.000 học sinh là con em các dân tộc thiểu số được học tập trung ở các trường phổ thông dân tộc nội trú. Hàng vạn em học sinh trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn được tạo các điều kiện đến trường học lớp bán trú. Mỗi năm có hàng ngàn học sinh được cử tuyển đi học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cả nước.

Sau hơn 60 năm thực hiện các chính sách dân tộc, đến nay chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Từ chỗ trước năm 1945 số trí thức người dân tộc thiểu số có thể đếm được trên đầu ngón tay, thì nay chúng ta đã có đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số khá đông đảo. Theo số liệu của dự án “Điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa” thì đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số nước ta có 642 người có trình độ trên đại học, hơn 13.000 người có trình độ đại học, cao đẳng và 78.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Trong đó có 5 dân tộc thiểu số có số lượng trí thức đông nhất là các dân tộc Tày, Hoa, Mường, Nùng, Thái.

Tuy nhiên, theo số liệu thống kê hiện vẫn còn nhiều dân tộc thiểu số chưa có người được đào tạo trở thành trí thức: 7 dân tộc không có người đạt trình độ cao đẳng, đó là các dân tộc: La Hủ, Mảng, Cơ Lao, Pu Péo, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm; 3 dân tộc không có người đạt trình độ cao đẳng và đại học (dân tộc Mảng, Brâu, Rơ Măm); 5 dân tộc chỉ có 1 người đạt trình độ đại học (dân tộc Xinh Mun, La Hủ, Cống, Pu Péo, Ơ Đu); 32 dân tộc không có người đạt trình độ trên đại học.

Cơ cấu của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số không cân đối: đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số làm việc trong lĩnh vực giáo dục, y tế chiếm tỷ lệ 72%, đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số làm việc trong các tổ chức Đảng, đoàn thể và hành chính sự nghiệp chiếm tỷ lệ 17%, tỷ lệ trí thức làm trong các ngành khoa học - kỹ thuật và ngành nông, lâm nghiệp chỉ chiếm 11%. Các chuyên ngành khoa học tự nhiên và công nghệ mới như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, xây dựng, giao thông, môi trường, cơ khí, hóa chất, tài chính, ngân hàng… có rất ít hoặc hầu như không có trí thức là người dân tộc thiểu số.

Một số dân tộc thiểu số chỉ có 1 hoặc 2 người có trình độ cao đẳng, đại học, nhưng họ lại làm giáo viên, cán bộ, không có ai làm công tác khoa học - công nghệ. Hiện tượng chảy máu chất xám của vùng dân tộc thiểu số cũng đang là vấn đề báo động. Nhiều em học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học, tìm mọi cách để được ở lại làm việc trong các thành phố lớn, thị xã, không muốn về quê, hoặc đến vùng sâu, vùng xa.

Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số làm việc trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và ứng dụng các tiến bộ khoa học ở các cơ quan quản lý khoa học - công nghệ là rất ít. Số trí thức là người dân tộc thiểu số làm việc trong các viện nghiên cứu khoa học, trong các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ ở các tỉnh là không đáng kể. Viện Dân tộc thuộc Uỷ ban Dân tộc trong những năm qua đã áp dụng các chính sách ưu tiên trong tuyển dụng con em là người dân tộc thiểu số, nhưng cũng chỉ có chưa đến 30% cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Theo chúng tôi, nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên đây là:

Chưa có chiến lược, qui hoạch đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số. Có thể thấy những năm qua, chúng ta thực hiện nhiều chính sách dân tộc trong giáo dục và đào tạo, nhưng các chính sách còn chưa đồng bộ, chưa có qui hoạch, được xây dựng phù hợp với nhu cầu thực tế. Chưa xác định được các chủ trương, định hướng và các giải pháp cụ thể nhằm đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức làm công tác khoa học và công nghệ.

Chưa có các chính sách đặc thù trong xây dựng đội ngũ trí thức cho các dân tộc đặc biệt khó khăn. Chính sách dân tộc trong giáo dục và đào tạo của chúng ta trong thời gian qua đề cập đến đối tượng thụ hưởng là các dân tộc thiểu số nói chung, chưa có các giải pháp đặc thù, đặc biệt cho các đối tượng là nhóm dân tộc cư trú ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người đặc biệt khó khăn.

Chưa có chính sách khuyến khích, phát hiện tài năng, để đào tạo trí thức trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, nghiên cứu chiến lược. Những năm qua, chúng ta đã có nhiều chính sách đào tạo, tạo nguồn cán bộ, trí thức dân tộc thiểu số, nhưng còn thiếu chính sách phát hiện, nuôi dưỡng, đào tạo nhân tài là người dân tộc thiểu số. Vì thế nhiều trường hợp các em là người dân tộc thiểu số có năng khiếu, có khả năng, nhưng không có điều kiện kinh tế, sự quan tâm, để trở thành cán bộ khoa học.

Chưa có các chính sách đãi ngộ, đầu tư và cơ chế tạo điều kiện, để các trí thức người dân tộc thiểu số yên tâm làm việc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Trong thời gian tới để xây dựng đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ người dân tộc đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng tôi cho rằng cần có hệ thống chính sách cơ bản, toàn diện, đồng bộ và đổi mới hơn nữa, theo các hướng chủ yếu như sau:

Chính sách tạo nguồn đào tạo trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc: Cần tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh phí cho con em các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, các xã 135 được đến trường, góp phần hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng hoặc trong mùa vụ.

Chính sách hỗ trợ học sinh nghèo ở các xã 135, vừa đảm bảo các mục tiêu cho các em học sinh dân tộc thiểu số rất ít người được đến trường, vừa trực tiếp hỗ trợ các gia đình xóa đói giảm nghèo. (Hỗ trợ tiền ăn cho các em đi học tại các lớp mẫu giáo là 70 000 đồng/tháng; hỗ trợ tiền ăn, dụng cụ học tập và sinh hoạt cho học sinh là con em hộ nghèo tại các xã 135, đang theo học tại các cơ sở giáo dục phổ thông 140.000 đồng/tháng).

Đối với các dân tộc thiểu số rất ít người, Nhà nước cần có chính sách đặc thù, để tạo nguồn trí thức khoa học – công nghệ người dân tộc cho các dân tộc này. Để tạo nguồn trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc rất ít người, theo chúng tôi cần sớm phát hiện các em học sinh có khả năng học tập, tiếp thu, có tài năng để theo dõi, bồi dưỡng, chăm sóc ngay từ khi còn nhỏ, bảo đảm các điều kiện nuôi dưỡng, học tập để trở thành trí thức, những người tài năng cho dân tộc. Trường hợp những em này được đi học cấp cao hơn ở các trường trung tâm tỉnh, thành phố, Nhà nước cần đảm bảo đủ các điều kiện ăn, ở, chi phí mua sách, vở, dụng cụ học tập và sinh hoạt phí, bảo hiểm y tế (phụ cấp cho các em sinh viên hiện rất thấp, không đảm bảo điều kiện học tập, với các chi tiêu tối thiểu cho một sinh viên học ở thị xã, thành phố, nhất là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).

Tiếp tục duy trì, củng cố hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, để tạo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ, trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc, nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới nội dung giảng dạy phù hợp hơn với điều kiện đặc thù ở mỗi địa phương để học xong các em có thể trở thành nguồn cán bộ cho địa phương và là nguồn để đào tạo ở các cấp học cao hơn, xây dựng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc.

Có chính sách khuyến khích, hướng nghiệp, thu hút, động viên cho con em các dân tộc học tập, nghiên cứu trở thành trí thức khoa học - công nghệ.

Về chính sách đào tạo: Chúng tôi cho rằng cần đổi mới chính sách đào tạo trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới nội dung đào tạo sát hợp với thực tiễn ở từng địa phương, từng vùng dân tộc.

Về chính sách cử tuyển, ưu tiên điểm đầu vào, nhưng phải theo hướng kiểm tra sát hạch đảm bảo khả năng tiếp thu kiến thức, học tập ở các trường đại học. Trường hợp chất lượng học sinh chưa đảm bảo cần tiếp tục bồi dưỡng, học tập ở các lớp dự bị đại học, để đảm bảo chất lượng đầu vào.

Trong đào tạo trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc cần đổi mới nội dung sát hợp với thực tế, bám sát những vấn đề của địa phương, giải quyết những vấn đề thực tế của vùng, dân tộc, tránh tình trạng dạy theo chương trình chung, những vấn đề của vùng khác, dân tộc khác.

Về bồi dưỡng nâng cao năng lực cần có chính sách và nguồn kinh phí thỏa đáng để thường xuyên thông tin, cập nhật kiến thức khoa học-công nghệ mới, định kỳ tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học và đi thăm quan, nghiên cứu học tập các mô hình khoa học – công nghệ trong và ngoài nước.

Về sử dụng đội ngũ trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc: Thực tế ở vùng dân tộc miền núi đang có tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ. Những năm qua, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp nước ta đã đào tạo ra khá nhiều trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc, nhưng nhiều em học xong lại không có việc làm. Nhiều địa phương đã thực hiện chính sách đưa số sinh viên đã học xong các trường về địa phương, hoặc phong trào đưa trí thức trẻ về nông thôn, miền núi của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhưng số lượng còn ít, chưa đồng bộ. Thời gian tới cần có chính sách cơ bản và đồng bộ hơn, nhằm quản lý và sử dụng đội ngũ trí thức đã được các trường đào tạo ra.

Cần có chế đội ưu tiên tuyển dụng cho cơ sở, xã, trung tâm cụm xã để thu hút trí thức trẻ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi.

Về phụ cấp, tiền lương cần đủ sức thu hút và đảm bảo điều kiện sống cho đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ lên vùng cao, yên tâm làm việc. Chế độ tiền lương phải cao hơn 2-3 lần so với người cùng trình độ làm việc ở thành phố, thị xã. Chế độ hệ số ưu đãi, phụ cấp thu hút phải ít nhất ngang bằng với chính sách chế độ khuyến khích đội ngũ giáo viên giảng dạy ở vùng cao.

Đề nghị có cơ chế trả lương, phụ cấp gắn với hiệu quả thực tế, do ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ mang lại. Như vậy thu nhập thực sự phụ thuộc vào tài năng, hiệu quả thực tế mang lại của các nhà khoa học, trí thức khoa học – công nghệ, và không giới hạn, đánh thuế thu nhập của những người này. Thu nhập càng cao, càng hấp dẫn những nhà khoa học đến với vùng cao.

Về điều kiện làm việc, thực tế là đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ làm việc ở đâu cũng phải theo tổ chức, hay cơ quan đơn vị, tập thể, đó còn là nơi tập hợp và phát huy sức mạnh chung của tập thể các trí thức. Đến nay chúng ta còn quá ít viện, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học- công nghệ tổ chức theo vùng ở miền núi. Để cán bộ khoa học - công nghệ có điều kiện nghiên cứu làm việc, cần phải có những trang thiết bị, phòng nghiên cứu, cơ sở vật chất cần thiết. Việc thành lập các viên nghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học- công nghệ theo các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên là rất cần thiết. Theo đó là hệ thống các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Cần có chế độ nhà công vụ cho cán bộ khoa học-công nghệ người dân tộc không chỉ ở các trung tâm tỉnh, thành phố, thị xã mà cả ở các cơ sở cấp xã, cụm xã. Những cán bộ làm việc lâu dài, ổn định ở miền núi, vùng cao được ưu tiên cấp đất, hỗ trợ kinh phí làm nhà yên tâm định cư lâu dài.

Để nâng cao hiệu quả và đổi mới chính sách xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc trong thời gian tới, chúng tôi cho rằng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như sau:

- Nâng cao nhận thức về vai trò đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ đối với vùng dân tộc, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trước tiên phải đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí tầm quan trọng của lực lượng khoa học – công nghệ, trí thức khoa học công nghệ người dân tộc đối với sự nghiệp phát triển vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính từ sự đổi mới nhận thức từ các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân sẽ tạo ra sự đổi mới trong chính sách tổ chức thực hiện tạo nguồn đào tạo, xây dựng, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ người dân tộc.

- Bố trí nguồn lực thỏa đáng cho đầu tư, xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ. Đầu tư cho giáo dục là đàu tư cho tương lai, vừa lâu dài nhưng cũng rất cấp bách, đầu tư cho giáo dục đào tạo là có lãi nhất, và đầu tư cho xây dựng phát triển đội ngũ trí thức khoa học- công nghệ không nằm ngoài quy luật chung đó. Để thực hiện được các chính sách về đội ngũ trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc cần phải đầu tư dài hơi hơn, cơ bản và toàn diện hơn. Phải có nguồn lực để chăm lo, nuôi dưỡng, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đỗi ngũ trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc từ các cấp học thấp đến cao và thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực, tạo điều kiện vật chất cơ bản cho đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc làm việc, phát huy hiệu quả lâu dài.

- Cần có cơ quan, đơn vị làm đầu mối, triển khai, đôn đốc, kiểm tra thực hiện các chính sách đối với đội ngũ cán bộ trí thức khoa học- công nghệ người dân tộc. Bài học kinh nghiệm thực hiện các chính sách dân tộc thời gian qua là: nếu không có cơ quan đầu mối trong triển khai, đôn đốc, kiểm tra, giám sát… thì chính sách nhiều và hay đến mấy cũng không thể trở thành hiện thực được.

Qua theo dõi vấn đề này, chúng tôi thấy rằng nên giao cho Uỷ ban Dân tộc làm đầu mối tham mưu cho Trung ương Đảng, Chính phủ triển khai, tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc thực hiện các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và sử dụng đội ngũ tri thức khoa hoc – công nghệ người dân tộc. Chính sách đối với đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ thuộc phạm vi nhiều bộ, ngành và địa phương. Vì thế một ngành, một địa phương không thể làm được. Với chức năng và cơ chế hoạt động của Uỷ ban Dân tộc hoàn toàn có đủ khả năng phối hợp nhiều hoạt động của các cơ quan bộ, ngành và địa phương như: Bộ Giáo dục- Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, các tỉnh, các trường đại học khu vực.

Có thể khẳng định, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng dân tộc và miền núi, đưa miền núi phát triển kinh tế- xã hội, rút ngắn khoảng cách với đô thị và các vùng khác của cả nước. Chính sách xây dựng, phát triển, sử dụng đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, là một trong những chính sách trong hệ thống chính sách dân tộc của nước ta. Đến nay đội ngũ trí thức khoa học- công nghệ đã dần hình thành và có những đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Tuy nhiên hiện tại đội ngũ trí thức khoa học-công nghệ người dân tộc còn ít về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để có đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thời gian tới Đảng và Nhà nước cần có hệ thống những chính sách, giải pháp cơ bản, đồng bộ và toàn diện trong quá trình từ đào tạo nguồn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đối với trí thức khoa học - công nghệ người dân tộc.

PGS. TS. Nguyễn Đăng Thanh
TS. Phan Văn Hùng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,908,934


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs