Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/11/2009
Kết quả sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên


Bà con dân tộc thu hái chè tại vùng chè đặc sản Khe Cốc - Phú Lương (Thái Nguyên)

Thái Nguyên là tỉnh miền núi, có vị trí chiến lược quan trọng - là trung tâm vùng Việt Bắc, nơi được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm An toàn khu - Thủ đô kháng chiến thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Thái Nguyên có tiềm năng đa dạng để phát triển kinh tế-xã hội; là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục đào tạo của vùng trung du, miền núi phía Bắc. Với tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 3.541,67 km2, dân số hơn 1,1 triệu người và là nơi hội tụ nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm gần 25% dân số toàn tỉnh, gồm dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa; tập trung chủ yếu ở 5 huyện: Võ Nhai, Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ. Đại đa số đồng bào sống ở những xóm, bản vùng sâu, vùng xa còn rất khó khăn, trình độ dân trí hạn chế, sản xuất chậm phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém. Đặc biệt có nhiều hộ là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo khó khăn về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt... cần được nhà nước quan tâm, hỗ trợ.

Sau khi có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) về Công tác dân tộc, Tỉnh uỷ Thái Nguyên đã xây dựng kế hoạch số 18-KH/TU ngày 02/4/2003 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 09-CTr/TU ngày 16/5/2003, đồng thời, tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh để quán triệt nội dung Nghị quyết và chỉ đạo các huyện, thành, thị uỷ, các đảng uỷ trực thuộc, các ban, ngành, đoàn thể xây dựng kế hoạch tổ chức quán triệt đến cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân, quyết tâm đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Đến nay, sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về Công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án về phát triển kinh tế-xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số như: Chương trình 135; Quyết định 134; Chính sách định canh, định cư, trợ cước, trợ giá, vay vốn để phát triển sản xuất; cùng với sự quyết tâm vươn lên của đồng bào, mức sống của người dân ở vùng sâu, vùng xa, từng bước được cải thiện. Về cơ bản số hộ đói không còn, số hộ nghèo giảm đáng kể. Trong những năm qua tỉnh Thái Nguyên đã được đầu tư hàng trăm tỷ đồng, tập trung xây dựng, triển khai nhiều dự án, công trình phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội tại các huyện miền núi, vùng cao; các xã đặc biệt khó khăn. Cụ thể như chương trình 135 giai đoạn I, giai đoạn II với tổng các nguồn vốn đầu tư (1999 - 2008) là 390.811,2 triệu đồng. Trong đó, đã triển khai xây dựng 448 công trình cơ sở hạ tầng với tổng số tiền là 274.941,73 triệu đồng; xây dựng được 43 công trình trung tâm cụm xã với số vốn là 53.669,2 triệu đồng. Ngoài ra, thông qua chương trình 135 đã đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở và nâng cao năng lực cộng đồng với số tiền là 8.627,4 triệu đồng; hỗ trợ sản xuất là 25.310,0 triệu đồng; hỗ trợ định canh định cư 12.993,54 triệu đồng; quy hoạch sắp xếp lại dân cư 1.900 triệu đồng; hỗ trợ các dịch vụ nâng cao đời sống nhân dân 10.677 triệu đồng; duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư 2.692,0 triệu đồng.

Chương trình 134 với tổng kinh phí (2005-2008) là 85.141,0 triệu đồng. Trong đó hỗ trợ làm nhà cho hộ nghèo dân tộc thiểu số trong 3 năm (2005-2008) là 4.236 hộ; đầu tư được 79 công trình nước sinh hoạt; 3.718 công trình nước phân tán theo hộ (đào giếng, xây bể); thực hiện trợ cước trợ giá là 45.411,44 triệu đồng. Ngoài ra, tỉnh còn chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án khác lồng nghép với Chương trình 135 như: chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư và chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất với đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Đến nay, phần lớn các công trình, dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng và mang lại hiệu quả thiết thực trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng. Bộ mặt của vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã có những thay đổi sâu sắc. Đặc biệt, chuyển biến rõ rệt nhất ở vùng nông thôn miền núi là cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, nhiều hệ thống đường giao thông tuyến huyện, xã đã cơ bản được bê tông hoá, đảm bảo duy trì thông đường đến trung tâm các xã 4 mùa trong năm; hầu hết các xã trong tỉnh đều có điện lưới quốc gia đến trung tâm; 100% số xã vùng dân tộc thiểu số phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi; cơ bản hoàn thành mục tiêu xoá phòng học tạm ở các xã đặc biệt khó khăn và xã ATK. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm dần qua các năm xuống còn 17,74% vào cuối năm 2008.

Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì và thực hiện tốt. Tỉnh đã quan tâm giải quyết tốt vấn đề đạo Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số, cho đăng ký sinh hoạt điểm, nhóm đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đồng bào tin tưởng vào chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước, yên tâm làm ăn xây dựng cuộc sống mới.

Đội ngũ cán bộ, công chức vùng dân tộc thiểu số đã từng bước được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Toàn tỉnh có 12.834 đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 19,75%. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường xuyên được cấp uỷ, chính quyền quan tâm củng cố, kiện toàn, tạo điều kiện cơ sở vật chất để hoạt động; từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên tham gia phát triển kinh tế-xã hội.

Phong trào văn hoá, văn nghệ ở các bản làng được duy trì, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; đặc biệt trong những năm qua thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cùng với đồng bào cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh đã không ngừng phát huy truyền thống thi đua yêu nước, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, thi đua lao động sản xuất phát triển kinh tế. Thông qua các phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế theo mô hình VAC, mô hình kinh tế trang trại, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật... với cách làm như vậy, nhiều hộ đã có thu nhập cao từ 50 đến 100 triệu đồng/năm, góp phần quan trọng vào việc xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng.

Những kết quả đạt được trên đây, trước hết là do sự quan tâm của Đảng và Nhà nước có các cơ chế, chính sách đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; cùng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc, trong đó có sự đóng góp tích cực của các già làng, trưởng bản là những người dân tộc thiểu số tiêu biểu, gương mẫu trong chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; tích cực tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc định canh, định cư, giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, thực hiện nếp sống văn minh, xoá bỏ hủ tục lạc hậu; tích cực hoà giải những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở các thôn, bản miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh những thành tích đạt được sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội ở các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên còn một số vấn đề cần quan tâm đó là:

Nhìn chung về trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa còn thấp, kinh tế chậm phát triển, chủ yếu mang nặng tính tự cung, tự cấp; nếp sống, tập quán canh tác có nơi còn lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi còn cao, việc áp dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật còn hạn chế. Chất lượng, hiệu quả về giáo dục và đào tạo chưa cao; công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ nhìn chung còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức thực hiện, chưa đáp ứng tốt được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách về dân tộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới. Thường xuyên quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khoá IX) về Công tác dân tộc; quan tâm đầu tư hơn nữa cho vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình làm kinh tế giỏi; giảm mạnh hộ nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng ATK.

 Tiếp tục triển khai thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Nêu cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu của các thế lực phản động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đồng thời động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Nguyễn Văn Vượng
Bí thư tỉnh uỷ Thái Nguyên

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,508,344


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs