Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Cần một chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc, miền núi làm cơ sở xây dựng các chính sách dân tộc

 14/10/2009

Cầu treo được xây dựng tại xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động (Bắc Giang) tạo điều kiện thuận lợi cho người dân

Nước ta, 3/4 diện tích tự nhiên là rừng núi (gần 33 triệu ha) trong đó đất đồi núi là 23,31 triệu ha. Địa hình đồi núi nằm trên địa phận của 44/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đây là nơi có nhiều tài nguyên, khoáng sản nhất là tài nguyên đất rừng với thảm thực vật đa dạng, tài nguyên nước với tiềm năng thuỷ điện phong phú.

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm khoảng 86% số dân, còn 53 dân tộc là dân tộc thiểu số, có số dân chiếm khoảng 14%. Đồng bào các dân tộc sống xen kẽ ở hầu hết các địa phương trong cả nước song chủ yếu tập trung ở miền núi, biên giới hải đảo - nơi địa hình hiểm trở. Vùng dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái, là lá phổi xanh, là “phên dậu” của đất nước. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, miền núi là căn cứ cách mạng, kháng chiến. Đồng bào các dân tộc thiếu số là một bộ phận quan trọng hợp thành động lực của cách mạng, đồng bào một lòng theo Đảng và bác Hồ không tiếc công sức, tiền của, tính mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Nhận rõ những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc cùng vị trí đặc biệt quan trọng của vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đầu tư để vùng dân tộc và miền núi phát triển.

Nhưng do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và do tiềm lực kinh tế của đất nước còn có hạn cùng cả những thiếu sót khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, chính sách của nhà nước nên đến này vùng dân tộc và miền núi nhất là ở khu vực III còn nhiều bất cập, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, kinh tế - xã hội phát triển chậm, đời sống vật chất tinh thần của đồng bào còn nhiều thiếu khó, tỷ lệ đói nghèo cao, trình độ dân trí, mặt bằng giáo dục thấp; môi trường sinh thái tiếp tục suy thoái; bản sắc văn hoá ở nhiều dân tộc bị mai một, nguy cơ mất văn hoá truyền thống đã đặt ra với một số dân tộc, không chỉ với những dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. ở nhiều nơi vẫn còn di dân tự do và tôn giáo phát triển không bình thường.

Thực tế ở nơi xung yếu và khó khăn nhất nước ấy đang tiềm ẩn những nhân tố bất ổn và tồn tại nhiều vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Đó là những vấn đề cụ thể trong cuộc sống thường nhật của đồng bào như đất ở, nhà ở, đất canh tác, nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, rồi hệ thống đường liên thôn, trong bản nơi đông bào đi lại ngày đêm, sớm tối thiết thực đối với giao lưu hàng hoá, phát triển sản xuất; hay nơi sinh hoạt văn hoá của làng bản, nơi chữa bệnh của cộng đồng, tình trạng mù chữ, tái mù chữ của người lớn, chỗ học của con trẻ, rồi cuộc sống giàu tâm linh, sự cả tin, cách tư duy cụ thể của đồng bào cùng phương thức sản xuất còn rất lạc hậu phụ thuộc nhiều vào tự nhiên… Thực tế ấy nếu không được quan tâm giải quyết thì khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa người dân ở vùng dân tộc, miền núi với miền xuôi cùng khoảng cách về sự phát triển kinh tế – xã hội giữa miền núi, đồng bằng, đô thị chẳng những không được rút ngắn mà còn tăng lên. Và, nước ta không thể ra khỏi tình trạng nước kém phát triển.

 Thực tế ấy càng không thể xem thường khi mà vấn đề dân tộc, sắc tộc ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp. Sự bùng nổ của trào lưu ly khai dân tộc ở các nước trên thế giới hiện nay ngoài nguyên nhân bên trong (vấn đề lịch sử để lại, những mâu thuẫn nội tại…) còn là sự kích động, tiếp tay, can thiệp của các thế lực thù địch bên ngoài nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu của chúng. Với nước ta, các lực lượng phản động, thù địch đang tìm mọi cách khai thác, lợi dụng những khó khăn thiếu khó trong đời sống của đồng bào các dân tộc cùng những hạn chế, yếu kém, những tiêu cực trong thực hiện chính sách dân tộc ở các địa phương để xuyên tạc, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị trong âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn, lật đổ của chúng. Những gì diễn ra ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001, những tháng đầu năm 2002 và tháng 4 năm 2004 cùng diễn biến ở các tỉnh Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây là những minh chứng.

Đảng ta trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc nhiều khoá, đều nhấn mạnh vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc.

Đại hội VIII của Đảng xác định: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI đã xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số, Các bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào, làm tốt công tác dân vận.

Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”. Và Đảng, Nhà nước ta đã xác định vùng dân tộc và miền núi có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái.

Vấn đề chiến lược, trên địa bàn chiến lược Dân tộc, miền núi, đang khó khăn nhất nước đòi phải có một chiến lược phát triển nhanh, toàn diện, bền vững để từ chiến lược ấy được cụ thể vào các kế hoạch của nhà nước và để ra đời những chính sách, những chương trình, dự án thiết thực, phù hợp bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, vững chắc và đồng bộ của sự phát triển. Từ đó, tránh được sự bị động, chồng chéo trong quá trình xây dựng, ban hành các chính sách, để địa bàn dân tộc và miền núi kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; để khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị được thu hẹp.

Chiến lược phát triển nhanh, toàn diện, bền vững vùng dân tộc và miền núi được xây dựng trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong thời kỳ mới, đó là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của đất nước; các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc; phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số. Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Công tác dân tộc và thực hiện công tác dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc và miền núi phải thể hiện được những mục tiêu, những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách mà Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc đề ra, trên cơ sở đó xác định mục tiêu nhiệm vụ cùng những giải pháp mang tính cơ bản tập trung cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đi liền với quá trình chuyển nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá thông qua đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, ưu tiên xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, thuỷ lợi; điều chỉnh hợp lí cơ cấu kinh tế, bảo vệ cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên. Phải gắn phát triển kinh tế với chăm lo đời sống của đồng bào, tập trung xoá đói, giảm nghèo và bảo đảm các nhu cầu giáo dục, y tế ở các xã đặc biệt khó khăn và ở nông thôn, bản đặc biệt khó khăn của các xã vùng II; coi trọng phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến. Các cơ sở công nghiệp phải là những “đầu kéo” về kinh tế - xã hội trên địa bàn và là những nhân tố cơ bản, đóng góp tính cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Để đảm bảo sự phát triển bền vững ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng, phải đặc biệt quan tâm, chăm lo đến chất lượng nguồn lực con người thông qua việc phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực và phải tạo nhiều cơ hội cho chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu quản lí, điều hành và thực hiện các chính sách, các chương trình, dự án của nhà nước dành cho địa phương. Đồng thời, từng bước giải quyết những mâu thuẫn, thách thức cùng những bất cập trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển.

Và để vùng dân tộc và miền núi phát triển vững phải đặt chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, môi trường vùng dân tộc và miền núi trong chiến lược phát triển của quốc gia.

ở Trung Quốc, nước có những thành công trong công tác dân tộc. Sau “Chương trình 7 năm” (gần như Chương trình Phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, biên giới gọi tắt là Chương trình 135 của nước ta) để tập trung về giải quyết cơ bản tình trạng đói nghèo cho 80 triệu người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Trước một năm “Chương trình 7 năm” kết thúc, Trung Quốc đã xây dựng và đưa vào thực hiện chiến lược “Đại khai phát miền Tây”. Với chiến lược này tiềm lực của cả nước được huy động; trách nhiệm, sức mạnh, thế mạnh và cả kinh nghiệm của các địa phương kinh tế - xã hội phát triển được khai thức cho phát triển nhanh, toàn diện, vững chắc miền Tây - vùng dân tộc thiếu số và miền núi của Trung Quốc. Thực tế ấy cần được tham khảo.

Đích đến cuối cùng của công tác dân tộc là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi; đảm bảo cuộc sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng cao, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giữa miền núi, vùng cao với miền xuôi. Có như vậy, nguyên tắc của công tác dân tộc và chính sách dân tộc đó là “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” mới được thực hiện và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mới trở thành hiện thực trong đời sống xã hội ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn chậm phát triển và khó khăn nhất của nước ta hiện nay.

Nguyễn Phương

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Tạp chí Dân tộc - Người bạn chỉ đường, người bạn đường thân thiết (09/2009)
  •  
  • Tôi đã đến với Tạp chí Dân tộc như thế (09/2009)
  •  
  • Đôi điều suy ngẫm từ Tạp chí Dân tộc (09/2009)
  •  
  • Dân tộc và Miền núi trình làng số đầu (09/2009)
  •  
  • 10 năm nhớ lại (09/2009)
  •  
  • Làm tốt vai trò cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế (09/2009)
  •  
  • Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải sát thực tế nhiều đặc thù của vùng dân tộc, miền núi (09/2009)
  •  
  • Bỏ bình quân cần nhiều chính sách đặc thù trong xây dựng (09/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,280,336


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs