Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Bỏ bình quân cần nhiều chính sách đặc thù trong xây dựng

 16/09/2009
Gia Lai là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên là 1.553.693 ha; dân số toàn tỉnh có khoảng 1.214.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 44,7% chủ yếu là dân tộc Jarai và Bahnar, cơ cấu dân số vùng nông thôn chiếm 72%, vùng thành thị chiếm 28%.

Tỉnh có 16 đơn vị hành chính (13 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố); có 219 xã, phường, thị trấn, trong đó có 68 xã, 309 làng đặc biệt khó khăn được đầu tư theo Chương trình 135 giai đoạn II của Chính phủ. Đến cuối năm 2008 số hộ nghèo toàn tỉnh còn 42.000 hộ/282.705 hộ, chiếm tỷ lệ 18,12% dân số (trong đó số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 84,02%).

Gia Lai tự hào với lịch sử chống giặc ngoại xâm gắn liền với nhiều tên tuổi như Anh hùng Núp, cùng các địa danh như PleiMe, Cheo Reo, Đức Cơ; tự hào với nền văn hoá mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc Jarai, Bahnar,... thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn; qua lễ hội truyền thống như Bỏ mả, Đâm trâu… đặc biệt cả không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể thế giới.

Trong những năm qua, nền kinh tế của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng khá, GDP năm sau cao hơn năm trước. Đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, từng bước đã khai thác một cách có hiệu quả các lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành để phục vụ cho sự nghiệp phát triển tỉnh nhà; những vấn đề bức xúc của xã hội được quan tâm giải quyết.

Tuy nhiên, do khó khăn về nhiều mặt nên Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, lao động chủ yếu là phổ thông, năng suất lao động thấp, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa; khoảng cách chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bào kinh và đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng có xu hướng gia tăng.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước đã độc lập tự do thống nhất, cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới. Do đó, công tác dân tộc và chính sách dân tộc phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới hiện nay.

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách, giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc miền núi, nhất là khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đã đặt ra những nội dung, yêu cầu nhiệm vụ mới về vấn đề dân tộc. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải tập trung xây dựng vùng dân tộc và miền núi phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, vững mạnh về an ninh-quốc phòng xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước, là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Do đặc điểm cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp, kinh tế chậm phát triển, chuyển dịch kinh tế còn lúng túng, sản xuất nông nghiệp kém phát triển, chất lượng nông sản thấp; cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu, trình độ dân trí còn thấp; chất lượng giáo dục, dịch vụ y tế còn hạn chế; tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, khoảng cách chênh lệch mức sống ngày càng tăng; đội ngũ cán bộ, hệ thống chính trị cơ sở trong vùng dân tộc còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực; tình trạng dân di cư tự do ngày càng gia tăng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc-tôn giáo chống phá ta.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới, đồng thời thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng và chính quyền có Nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc; ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt nhiều chương trình, dự án đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiếu số nhất là các xã vùng III (xã đặc biệt khó khăn), vùng có tỷ lệ hộ đói nghèo cao, thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân. Có sự phân cấp và phân công tổ chức thực hiện từ tỉnh đến cơ sở, từ đó công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc được coi là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh.

Do vậy, hơn 30 năm qua với nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội từ đó đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện một bước, bộ mặt kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc đã được thay đổi rõ rệt. Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Nền kinh tế nhiều thành phần bắt đầu được hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển. Đến nay 100% xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã; 90% xã và 70% hộ được dùng điện sinh hoạt, 100% xã có Trạm y tế... góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.

Bên cạnh, việc thực hiện các chính sách dân tộc đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua, thì vẫn còn tồn tại một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn, đó là việc đầu tư, hỗ trợ mang tính bình quân, cào bằng. Để tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ngày càng tốt hơn cần có những chính sách cụ thể, đặc thù cho từng vùng (vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới), từng dân tộc (có dân số ít người, đông người) và theo trình độ dân trí, văn hoá sát thực tế với người dân.

Để đầu tư phát triển toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng và ổn định chính trị trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện các chính sách dân tộc, quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giữ gìn phát huy những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng, phát huy nội lực, tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự quyết tâm thực hiện các chính sách của địa phương để nâng cao đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trước mắt giai đoạn 2011-2015 cần có những chính sách cụ thể sau đây:

- Có cơ chế chính sách cụ thể theo Nghị quyết 30a của Chính phủ;

- Xây dựng và ban hành Nghị định về công tác dân tộc;

- Xây dựng đề án hỗ trợ trực tiếp cho người dân thay cho Quyết định số 168 của Thủ tướng Chính phủ;

- Xây dựng chính sách hỗ trợ an sinh xã hội cho vùng đồng bào dân tộc và miền núi;

- Xây dựng chính sách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc và miền núi;

- Xây dựng chính sách đặc thù cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và chính sách thu hút cán bộ đến công tác vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa;

- Xây dựng chính sách đầu tư toàn diện phát triển cho dân tộc ít người;

- Xây dựng chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho vùng dân tộc thiểu số giai đoạn (2011-2015) và tầm nhìn đến năm 2025;

- Xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc miền núi;

- Xây dựng đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn, biên giới (Chương trình 135 giai đoạn III).

Từ đó xác định công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn hệ thống chính trị để cho các dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam được bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Phạm Tiến Dũng
Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,264,736


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs